BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI KỶ HỢI 2019 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2019

NHẠC SĨ PHẠM DUY ĐÃ PHỔ NHẠC THƠ CỦA LINH PHƯƠNG HAY THƠ CỦA CHUẨN NGHỊ ?- La Thụy




NHẠC SĨ PHẠM DUY ĐÃ PHỔ NHẠC THƠ CỦA LINH PHƯƠNG HAY THƠ CỦA CHUẨN NGHỊ ?

*
Bài thơ
ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến trận Pleime
Hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết
Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng
Cho em làm kỷ niệm sang sông
Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em – anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.

                    LINH PHƯƠNG

*
Bài thơ
KỶ VẬT

Em hỏi
Xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa,
Anh trở về không bằng huy- chương chiến-thắng.
Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng,
Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng -ca.
Anh trở về nằm giữa vòng hoa,
Những vòng hoa tang chan-hòa nước mắt.
Anh gởi về cho em vài kỷ-vật,
Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù.
Nó đã từng che nắng che mưa,
Đã từng hứng cho anh giọt nước.
Chiều dừng quân nơi địa-đầu lạnh buốt,
Nấu vội-vàng trong đó nắm cơm khô.
Anh gởi cho em một tấm poncho,
Đã rách nát theo hình-hài năm tháng.
Lều dã-chiến trên đồi hoang cháy nắng,
Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa.
Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong-đưa,
Và….khi anh chết cũng poncho tẫn-liệm.
Nay anh gửi cho em làm kỷ-niệm,
Nhận không em chút tình lính này đây ?
Tình lính đơn-sơ vì chinh-chiến kéo dài,
Nhưng tình lính chỉ lạt phai
Khi hình-hài và con tim biến-thể.

Chuẩn úy NGUYỄN ĐỨC NGHỊ
(Chuẩn-Nghị 1969)

*
Bản nhạc
KỶ VẬT CHO EM

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime
Hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giả
Anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã…em ơi…

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về đây kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông cho làm kỷ niệm
Anh trở về, anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về nhìn nhau xa lạ
Anh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt không quen
Cố quên đi một lần trăng trối …em ơi…
Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

                             Nhạc sĩ Phạm Duy

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2019

CHÚA GIÊSU VÀ PHẠM DUY - Đào Hiếu

Nguồn:
https://daohieu.wordpress.com/2013/02/01/tan-uoc-hau-hien-dai/ 
                                 (Tân ước hậu hiện đại)


Nhà văn Đào Hiếu, tên khai sinh: Đào Chí Hiếu.
Các bút danh khác: Biển Hồ, Đào Duy.
Hiện ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Wikipedia
Sinh: 10 tháng 2, 1946 (tuổi 72), Tây Sơn
Học vấn: Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn (1972)

  
 KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA NHẠC SỸ PHẠM DUY 27/1/2013

         CHÚA GIÊSU VÀ PHẠM DUY
                                                Tác giả Đào Hiếu

Trên đường đi xuống trần gian, Chúa Giêsu nhìn thấy một đám đông những người đứng tuổi, ra dáng quan chức, trí thức, nghệ sĩ, đang vây quanh một ông già tóc bạc trắng. Họ vừa la hét vừa ném đá. Ông già nọ lúc đầu còn đưa tay đỡ nhưng sau khi bị trúng mấy cú vào đầu thì quỵ xuống, nằm trên bãi cỏ.
Giêsu đứng lặng người một lúc rồi chậm chạp bước đến, đi vào giữa đám đông.
Ngài cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ vẫn không ngừng ném đá nên Ngài ngẩng lên và bảo họ:

“Ai trong các ngươi cảm thấy mình có công với dân tộc Việt Nam hơn Phạm Duy thì hãy ném đá ông ấy. Còn nếu ai trong các ngươi cảm thấy công lao của mình thua kém Phạm Duy thì hãy im lặng, suy gẫm.”

“Và kẻ nào đang cướp đất của dân, cướp tiền bạc, mồ hôi nước mắt của dân, cướp tự do của dân thì hãy cúi mặt xuống. Các ngươi không có tư cách để đánh giá Phạm Duy.”

“Ta phong thánh cho người nhạc sĩ tài hoa ấy. Các ngươi sẽ bị nhân dân quên lãng nhưng Phạm Duy thì luôn ở trong hoài niệm của dân tộc Việt Nam. Các ngươi sẽ bị lịch sử ném vào sọt rác nhưng Phạm Duy đã được dựng tượng đài trong mỗi trái tim.”

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

Ở VN, CŨNG NGHE MINH HỌA KIỀU CỦA NHẠC SĨ PHẠM DUY… - Đỗ Hùng

Nguồn:
https://vietbao.com/a73279/o-vn-cung-nghe-minh-hoa-kieu-cua-nhac-si-pham-duy

 
                                    Nhạc sĩ Phạm Duy

Ở VN, 
CŨNG NGHE MINH HỌA KIỀU CỦA NHẠC SĨ PHẠM DUY…

(Bài viết năm 2002, trước khi nhạc sĩ Phạm Duy được phép về VN).

Tôi là một người yêu nhạc của Phạm Duy từ hồi còn rất bé. Đã hơn ¼ thế kỷ trôi qua, ở Việt Nam, dù những ca khúc do ông soạn hoàn toàn cố tình "bị vắng bóng" trên các phương tiện thông tin đại chúng như radio, TV, báo chí… nhưng trong các quán nhạc hay phòng trà, trong các gia đình, âm nhạc của ông vẫn còn, người ta vẫn nghe, vẫn thuộc, vẫn chép lại lời nhạc và quảng bá cho nhau…
Năm nay nhạc sĩ Phạm Duy đã 81 tuổi. Ông là một nhân vật có "tài nghệ siêu quần" hay là "võ nghệ tuyệt luân" của đất nước Việt Nam trong lãnh vực nghệ thuật. Người ta đã viết và đã nói về ông quá nhiều, tôi mường tượng hình như nhạc sĩ Phạm Duy là người đã để cho "chảy nhiều mực và tốn nhiều giấy" nhất trong lịch sử văn hóa nghệ thuật của nước Việt Nam đương đại…

Ở Việt Nam, tôi cũng có nghe ngóng và theo dõi từng "đường đi nước bước" của nhạc sĩ Phạm Duy ở nước ngoài (điều mà từ năm 1975 đến giờ tôi vẫn làm). Tôi chờ đợi từng ngày Minh Họa Kiều II ra mắt như lời ước hẹn của ông khi Minh Họa Kiều I xuất hiện cách đây vài năm… Những nhạc khúc ông viết ra ở bên kia quả địa cầu, chắc ông cũng không ngờ rằng ở quê nhà có nhiều người âm thầm đi tìm kiếm, sưu tầm, gìn giữ quý giá tưởng như không gì còn quý hơn thế nữa. Tôi là một trong số rất nhiều người Việt Nam ở quốc nội đã làm công việc đó…



Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

"TÂM PHẨN CA 4" HAY LÀ "ĐI VÀO QUÊ HƯƠNG" - Thơ Huỳnh Hữu Võ, nhạc Phạm Duy


            
                            Nhà thơ Huỳnh Hữu Võ

Bài thơ “TRÒ CHƠI CỦA NHỮNG NGƯỜI CHƯA LỚN” lần đầu tiên được đăng trên Tiểu thuyết Thứ Năm vào năm 1965, mang bút hiệu Hoa Đất Nắng. Tên thật tác giả là Huỳnh Hữu Võ, một nhà thơ ở Tuy Phong, Bình Thuận.
Đến năm 1966 nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc đổi tên thành “ĐI VÀO QUÊ HƯƠNG”. Bài hát này nổi tiếng qua giọng ca Khánh Ly. Khi mới nghe qua lần đầu, nhiều người nhầm lẫn là nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn.

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

TẢN MẠN VỀ BÀI THƠ "KỶ VẬT CHO EM" DO PHẠM DUY PHỔ NHẠC - Linh Phương


     

Khi giới thiệu Nhà Thơ LINH PHƯƠNG, một số câu hỏi của bạn đọc về Bài thơ “Kỷ vật cho em” và chúng tôi đã đề nghị anh viết vài giòng và anh đã nhận lời, chúng tôi cũng mong nhận nhiều ý kiến liên quan. Tất cả những vấn đề này VCV xem như là tư liệu riêng và trong khi chờ đợi những đánh giá chúng tôi cho rằng bài thơ này là một trong những bài thơ phản chiến trong đô thị miền nam.           
                                                                               Văn Chương Việt 
  
Nhận được e-mail anh Nguyễn Hòa vcv đề nghị viết về những sự kiện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em (KVCE) mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975. Thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu, và viết những sự kiện gì, bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không ?
                                                                                      Linh Phương 

          
                     Nhà thơ Linh Phương  


          TẢN MẠN VỀ BÀI THƠ KỶ VẬT CHO EM 
          DO PHẠM DUY PHỔ NHẠC
                                                                   Linh Phương

Nhận được email của anh Nguyễn Hòa đề nghị viết về những sự kiện quanh bài thơ "Kỷ vật cho em" mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975, thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu và viết những sự kiện gì, bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không?
Thôi thì kể lan man một vài chuyện về bài thơ đó vậy! Xuất xứ bài thơ của tôi đăng trên nhật báo Độc Lập vào năm 1970 với tựa đầu tiên "Để trả lời một câu hỏi", để tặng người con gái tên Hương. Trang sáng tác của tờ báo này do Âu Lăng (tức nhà thơ Trần Dạ Từ, chồng của nhà văn Nhã Ca) phụ trách. Tôi thường xuyên đăng bài ở trang báo này, có thể nói một tháng 30 ngày thì bài của tôi xuất hiện khoảng hơn 20 ngày với tên Linh Phương, Vương Thị Ái Khanh và Phạm thị Âu Cơ.

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

NGUYỄN TRỌNG TẠO NÓI GÌ VỀ PHẠM DUY - Trịnh Sơn thực hiện

Nguồn :  

         
                           Nhà thơ trẻ Trịnh Sơn và nhạc sĩ Phạm Duy

          NGUYỄN TRỌNG TẠO NÓI GÌ VỀ PHẠM DUY
                                                                             Trịnh Sơn

Tapchitiengquehuong - Chiều 27.01.2013, ngay sau khi biết tin NS Phạm Duy qua đời, nhà thơ trẻ Trịnh Sơn làm ngay một phỏng vấn với nhạc sĩ- họa sĩ-  nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và mail ngay cho Tiếng Quê Hương nhưng do trục trặc đường truyền, đến chiều nay, 29.01 TQH mới nhận được.

Xin chào nhạc sĩ – thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo! Anh có nghĩ rằng mình sẽ tổ chức hoặc tham gia một sự kiện liên quan (thuộc về) âm nhạc mang tính chất dữ dội như đám tang Phạm Duy?
- Không bao giờ!

Anh có mặt ở đám tang Trịnh Công Sơn?
- Ngày anh Sơn mất, tôi ở Hà Nội, phải viết đến 3 bài báo về anh ấy. Khi người ta tiễn anh Sơn ở Sài Gòn thì tôi và Nguyễn Thụy Kha lo chuẩn bị làm đêm nhạc “Tưởng nhớ Trịnh Công Sơn” ở Hà Nội sau 1 tuần anh ấy mất. Đó cũng là một cách đưa tiễn vậy.

Anh có từng nghe những lời đánh giá của Phạm Duy về nhạc Trịnh, nhạc Lê Uyên Phương, nhạc Ngô Thụy Miên?
- Tôi đọc điều đó trong hồi ký của Phạm Duy.

Có lẽ, chẳng ai muốn tự đánh giá về mình nhỉ. Nếu Phạm Duy đánh giá về nhạc Nguyễn Trọng Tạo, theo kiểu như Trịnh thì “nhu nhược”, Lê Uyên Phương thì “dục tính cao”…, anh nghĩ nhạc sĩ của Bà mẹ Gio Linh rát bỏng này sẽ dành lời nào với mình?
- Chắc họ Phạm không bao giờ chấp đến tôi.

Ngoài lề một chút, anh có nghe Phạm Duy trước khi anh sáng tác các nhạc phẩm nổi tiếng như Khúc hát sông quê, Làng quan họ quê tôi, Đôi mắt đò ngang,…?
- Tôi không được nghe nhiều ca khúc Phạm Duy.

Anh có gặp gỡ Phạm Duy?
- Tôi gặp Phạm Duy từ khi chưa gặp, nghĩa là “gặp giọng nói” khi ông ấy gọi điện thoại từ Mỹ về cho tôi. Rồi sau đó thỉnh thoảng gặp họ Phạm những dịp ông ấy hẹn.

Tôi từng nghe anh ngợi ca rằng, nhạc Phạm Duy là thứ không thể thiếu trong kho tàng văn hóa Việt Nam? Như Truyện Kiều trong tiếng Việt?
- Tôi có nói thế à? Câu trả lời này có vẻ giống Phạm Duy, nhưng có lẽ không giống về chất.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

MÙA THU – APOLLINAIRE – BÙI GIÁNG – PHẠM DUY - HOA THẠCH THẢO - La Thụy sưu tầm và biên tập


       


MÙA THU - APOLLINAIRE - BÙI GIÁNG - PHẠM DUY - HOA THẠCH THẢO

          Sắc màu thu đã gieo nhiều cảm hứng cho hồn thơ tứ nhạc. Nhiều bài thơ, bản nhạc viết về THU dù đã trải qua bao năm tháng phôi pha vẫn in đậm nét trong lòng người thưởng lãm. Là người yêu nhạc (loại nhạc có air “bán cổ điển”), ai mà không thuộc các bản “Buồn tàn thu” của Văn Cao, “Giọt mưa thu”, “Đêm thu”, “Con thuyền không bến”… của Đặng Thế Phong , “Thu quyến rũ” của Đoàn Chuẩn Từ Linh , “Thu vàng” của Cung Tiến, “Em ra đi mùa thu” của Phạm Trọng Cầu, “Chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn , “Mùa thu Paris” của Phạm Duy, “Thu hát cho người” của Vũ Đức Sao Biển, “Thu ca” của Phạm Mạnh Cương v.v… Đặc biệt, bản “Mùa thu Chết” của Phạm Duy, bản nhạc hay nhưng có nhiều thắc mắc về xuất xứ của ca từ.
         Bản nhạc này lấy ý của bài thơ “ L’ADIEU” của Guillaume Apollinaire, điều này có lẽ được nhiều người chấp nhận. Tuy nhiên lời Việt của bản nhạc “Mùa thu chết” thì không ít ý kiến cho rằng là do chính thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Pháp bài “L’ADIEU” nói trên, Phạm Duy chỉ phổ nhạc mà thôi. Để nhìn nhận cho khách quan, ta thử đối chiếu nguyên tác với bản dịch của Bùi Giáng và lời nhạc của Phạm Duy .

 a/ Bài thơ của Apollinaire :

           L'ADIEU

           J'ai cueilli ce brin de bruyère

           L'automne est morte souviens-t'en
           Nous ne nous verrons plus sur terre
           Odeur du temps brin de bruyère
           Et souviens-toi que je t'attends

           GUILLAUME APOLLINAIRE


b/Bản dịch của thi sĩ Bùi Giáng :

           LỜI VĨNH BIỆT

           Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo (*)

           Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi 
           Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa
           Mộng trùng lai không có ở trên đời
           Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
           Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó... 

                                                   BÙI GIÁNG

   (*) Câu này còn có dị bản:

          Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo

c/ Ca từ trong bản “Mùa thu chết” của Nhạc sĩ Phạm Duy :

           MÙA THU CHẾT

           Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo

           Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi !
           Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
           Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
           Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho !
           Em nhớ cho,
           Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
           Trên cõi đời này, trên cõi đời này 
           Từ nay mãi mãi không thấy nhau
           Từ nay mãi mãi không thấy nhau...
           Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
           Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi !
           Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
           Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
           Vẫn chờ em, vẫn chờ em
                 Vẫn chờ....
                                    Vẫn chờ... đợi em !

                                            PHẠM DUY


          Như vậy, xem hai bản dịch nói trên, chúng ta thấy, chỉ có 2 câu đầu tiên là giống nhau thôi, thi sĩ Bùi Giáng chuyển ngữ tựa đề “LỜI VĨNH BIỆT” rất sát với nguyên ngữ “L’ADIEU”, trong bản dịch ông có dùng từ Hán Việt : “tương phùng”, “mộng trùng lai”, toàn bài dịch hơi thoát ( thêm câu “ Mộng trùng lai không có ở trên đời”). Riêng nhạc sĩ Phạm Duy thì trừ cái tựa bài nhạc “Mùa thu chết” là dịch có khác với nguyên ngữ, còn lại lời nhạc toàn bài dịch khá sát với nguyên tác. Lời dung dị nhưng cảm động. Phạm Duy khi phổ nhạc thì ở phần ca từ có thể chuyển dịch vị trí các câu thơ và có thể thay đổi từ ngữ, nhưng nhờ vậy bản nhạc có sắc thái riêng làm cho bài thơ được phổ có sức sống mới và giới yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt, chính ngay nhiều tác giả có thơ được phổ nhạc cũng đồng tình như thế. Riêng Bùi Giáng, chính trong bài “Lời vĩnh biệt “ ông lại chuyển dịch 2, 3… lần nữa thậm chí chuyển dịch ra lại tiếng Pháp. (Mời xem tiếp phần sau: "BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE" và vài hình ảnh HOA THẠCH THẢO cũng trong bài viết này.)
            Khi bản nhạc MÙA THU CHẾT xuất hiện, nhiều người cho rằng Phạm Duy đang ám chỉ điều gì đó, có không ít ý kiến phản hồi. Riêng nhạc sĩ Châu Kỳ sáng tác bản nhạc " MÙA THU CÒN ĐÓ" với ca từ như sau :

             MÙA THU CÒN ĐÓ
             Cảm xúc vì nghe mùa thu chết 
             Tôi viết bài này thương tiếc bởi mùa thu 
                                                            Châu Kỳ

             Mùa thu ơi! Nghe nói rằng em đã chết
             Mùa thu ơi! Em còn đó hay chết rồi
             Em còn đó, em còn đó hay chết rồi…
             Thu! Em hãy nói, em hãy nói, nói đôi lời
             Rằng mùa thu vẫn sống dài trên sông núi
             Hồ thu xưa, trăng nhìn nước vẫn sáng ngời…
             Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi
             Không ! Thu vẫn sống, em vẫn sống, sống đời đời…
             Lạc vào vườn thu nghe lá vàng rơi xao xác
             Lạc vào vườn thu thương nai buồn đang ngơ ngác
             Dáng thu xưa vẫn chưa mờ, vẫn chưa mờ
             nói sao vừa, nói sao vừa
             nỗi mong chờ, đến bao giờ
             Này thu ơi, thương bóng hình em năm đó...
             Dù thu đi, trăng và gió vẫn ngóng chờ
             Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi !
             Không, thu vẫn sống
             Đem hình bóng cho cuộc đời…

                                                        Châu Kỳ
     

         

             BÙI GIÁNG BÌNH THƠ APOLLINAIRE 

                   Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
                   Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

                   L'ADIEU
                   J’ai cueilli ce brin de bruyère
                   L’automme est morte souviens-t’en
                   Nous ne nous verrons plus sur terre
                   Odeur du temps brin de bruyère
                   Et souviens-toi que je t’attends.
                                         AP0LLINAIRE

                  Và nhớ nhé! Ta đợi chờ em đó

         Bài thơ chỉ vẽn vẹn chỉ có năm câu. Năm câu phiêu hốt mang thiên nhiên nằm giữa nền thi ca Tây Phương Hiện Đại – năm câu cũng đồ sộ như toàn khối Đường Thi Trung Hoa hay mấy vần tứ tuyệt của một Thôi Hộ.

                   Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
                   Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
                   Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
                   Mộng trùng lai không có ở trên đời
                   Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
                   Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…

         Dịch ra làm sáu câu, tôi có phần áy náy. Nhưng không biết phải làm sao. Cái chất đạm nhiên bát ngát trong bài thơ Apollinaire đang trừ khử hết mọi lối dịch diễn, dịch di, dịch tinh, dịch thể. Cứ thử liều một trận xem sao.

                   Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
                   Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
                   Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa
                   Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon
                   Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé…

         Cũng tạm gọi là được. Nếu ta đem bài thơ bát ngát kia đặt vào giữa nguồn thơ mênh mông của Apollinaire ắt ta dám dịch nó ra làm lục bát Huy Cận, lục bát Nguyễn Du hoặc làm thất ngôn Du Nguyễn.

                   Đã hái nhành kia một buổi nào
                   Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao
                   Thu còn sống sót đâu chăng nữa
                   Người sẽ xa nhau suốt điệu chào

                   Em nhớ anh quên và em cũng

                   Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh
                   Thời gian đất nhạt mờ năm tháng
                   Tuế nguyệt ta đà nhị hoán tam.

          Dịch như thế là diễn giải một mùi hương ẩn tàng trong nếp gấp. Nhưng đâu có cần gì. Nếu như cần, thì tớ cứ buông bừa bút mực viết bừa thơ.

                   Mùa thu chết liễu nhớ chăng em?
                   Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm
                   Đất lạnh quy hồi thôi hết dịp
                   Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên

                   Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường

                   Nhành hoang thạch thảo ngậm ngùi vương
                   Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại
                   Thạch thượng khê đầu nguyệt điểu mang

                   Xa nhau trùng điệp quan san

                   Một lần ly biệt nhuộm vàng cỏ cây
                   Mùi hương tuế nguyệt bên ngày
                   Phù du như mộng liễu dài như mơ

                   Nét my sầu tỏa hai bờ

                   Ai về cố quận ai ngờ ai đi
                   Tôi hồi tưởng lại thanh kỳ
                   Tuổi thơ giọt nước lương thì ngủ yên.

      Dịch ra như vậy thì tiếp giáp với bài thơ “JE ME SOUVIENS":

                  Je me souviens de mon enfance 
                  Eau qui dormait dans un verre 
                  Avant les tempêtes l’espérance 
                  Je me souviens de mon enfance

                  Tôi hồi tưởng tuổi thơ ngày trước

                  Đáy ly nào giọt nước ngủ yên
                  Trước khi giông bão muộn phiền
                  Giậy cơn hy vọng cuối miền thơ ngây.

                  Je songe aux métamorphoses 

                  Qui s’épanouissent dans un verre 
                  Comme l’espoir et la tristesse 
                  Je songe aux métamorphoses 

                  C’est ma destinée que je lis 

                  Dans les reflets incertains 
                  Les jeux sont faits rien ne va plus 
                  C’est ma destinée que je lis 

                  Tôi nghĩ tới tháng ngày chuyển dịch

                  Những thay hình đổi dạng mở phơi
                  Trong ly nước mộng tuyệt vời
                  Với sầu dao động nỗi đời giao thoa 

                  Linh hồn định mệnh âm ba

                  Bóng vang khép mở đầu hoa mơ hồ
                  Hỡi ôi dâu biển xô bồ
                  Hồn trong định mệnh bây giờ đọc ra

                                       (Sương Bình Nguyên )

                                               BÙI GIÁNG

                  HOA THẠCH THẢO
                  Nguồn: Tài liệu tổng hợp từ internet

    Hoa bruyère trong thơ Guillaume Appolinaire đã được Bùi Giáng và Phạm Duy dịch là hoa thạch thảo. Tự điển Pháp - Việt giải thích hoa bruyère là một loài hoa chuông dại mọc trên cát sỏi. Nhưng ở Việt Nam, hoa Thạch thảo chính là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, Cúc Nhật. Chúng ta thử tìm hiểu về HOA THẠCH THẢO nhé!

* Hoa thạch thảo ở Việt Nam

          Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam , người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bông với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép. Hoa Thạch thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùa Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.
          Như vậy, hoa Thạch Thảo (hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L. thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère.
          Nhóm Cúc (cả trồng làm hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ sống trong vài tháng!). Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng từ hột, có loại trồng bằng củ; cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường bất thụ)


                      
                            Hoa thạch thảo (cúc cánh mối)

            

           
                                   Hoa thạch thảo (cúc sao)




* Hoa Thạch Thảo ở Âu Châu

      Hoa Thạch thảo Âu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar.

Từ điển Sinh Học Anh Việt và Việt Anh, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật dịch heather là cây thạch nam. Erica. Trung hoa gọi là Hồng phương bách hay Thạch nam. Từ điển phổ thông Pháp Việt gọi là cây Thạch thảo.
Phân loại:
        Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae, có một  loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica. Dưới đây là một số giống Erica khác nhau trong hàng vài trăm loại khác nhau trên thế giới.
        Loại Calluna vulgaris là loại thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt.
Loại Erica gồm nhiều giống khác nhau từ giống cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn.
        - Erica arborea, treeheath, briar, brier: cây nhỏ ở vùng Địa Trung Hải có chùm hoa trắng hình chùy, thơm và có rễ cứng như gỗ được dùng để làm ống điếu hút.
        - Giống Erica carnea, spring heather, winter heather, là loại cây hoa nhỏ mùa đông hay mùa xuân, ở Âu châu có hoa hình chuông màu đỏ hay hồng.
        - Giống E. cinerea: loại thạch thảo có lá nhỏ, hoa hình chuông màu đỏ tím
        - Giống E. tetralix, bellheather, cross-leaved heath là loại cây nhỏ lùn có hoa màu hồng
        - Giống E. vagans hay còn gọi là Cornish heath là loại thạch thảo mọc cả bụi có hoa màu hồng hay trắng thường thấy ở cánh đồng hoang tại Cornish và đông nam Ấu châu.
        - Giống E. lusitanicahay Portugese heath, Spanish heath mọc rậm rạp ở vùng bán đảo Iberia , có hoa trắng hồng.
        - Giống E. perspicua hay Prince of Wales heath mọc rất nhiều ở Anh quốc và Nam Phi châu, có hoa màu trắng. Hoa dài và trông tựa như chùm lông của huy hiệu trên Coat of Arms của Hoàng tử xứ Wales- Anh Quốc, nên mang tên Prince-of-Wales heath
        - Erica mammosalà loại Erica có nhiều màu nhất từ màu trắng, tím, cam đến màu đỏ. Hoa chuông đặc biệt dài hơn các loại Erica khác

        
              Calluna vulgaris                                                Erica arborea  


                  

          Erica carne                              Erica cinerea                        Erica tetralix 














           

           Erica lusitanica                    Erica perspicua                        Erica mammosa

Nếu nói về ý nghĩa của màu hoa thạch thảo thì thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục.
Mùa thu về, nhìn lá vàng chao nghiêng trong gió, thấm đẫm nắng hanh vàng, bất chợt bừng trải lòng lắng nghe tiếng thu man mác bâng khuâng                                                        
                                                                                   LA THỤY                
                                                                            (Sưu tầm và biên tập)