BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2025

BUỔI CHIỀU MÙA THU, SƯƠNG TRẮNG BAY – Thơ Tịnh Bình


   


BUỔI CHIỀU MÙA THU
 
Rơi chiếc lá thu thật khẽ
Dường như chiều mênh mông...
 
Ngón tay gầy lướt trên phím thời gian
Cọng gió thổi sợi buồn mê mải
Ánh mắt màu thu u uẩn
Ám ảnh suốt mùa dài
 
Gió về lối gió
Những đám mây màu tro như chực khóc
Chiều ầng ậng nước
Lòng tưởng êm tiếng sóng
Muôn lối đổ về sông
 
Chiếc lá cuối cùng vờ đi đâu đó
Chiều trống rỗng mênh mông
Khúc hát mùa thu ai ngân nga giai điệu
Như dắt tôi về vườn xưa
Vùng cỏ dại sương mù...
 

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2025

BUỒN TÌNH NÓI BÁ VƠ – Trần Vấn Lệ


Nhà thơ Trần Vấn Lệ duyên vẽ theo yêu cầu của Nguyệt Mai

Đã bảy giờ chưa thấy chút nắng nào lóe lên.  Hôm nay chắc "an yên" nên ông trời cứ ngủ?
 
Nhà sư vừa gõ mõ, không thấy tín đồ nào.  Trời mù nên không cao...cũng chưa Rằm tháng Bảy!
 
Rằm tháng Bảy xá tội những người chết mong chờ có một bữa no nê dẫu chỉ là quá khứ!
 
Bây giờ đời đổi chữ Rằm Tháng Bảy Ngày Nhớ Mẹ - Mẹ của Mình mà Thôi.
 
Thời thế cái thế thời.  Nhất Hạnh cười vui vẻ... Thành Phố Bến Tre né được trái bom nào đâu!
 
Nhất Hanh lựa được màu hoa hồng cài lên áo... Nhất Hạnh mở đường Đạo:  Mừng Lễ Vu Lan Bồn...
 
*
Bàn Làm cứ Bàn Làm!
Bài thơ này vô tự!
Triệu triệu người xa xứ buồn tình nói bá vơ...
 
                                                                                  Trần Vấn Lệ

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025

PHẢN HỒI NHÀ BÁO HÀ ĐÌNH NGUYÊN - Tiểu Vũ

Về ý kiến: “Lấy bằng chứng nào để minh định ‘Nắng chiều’ là bản Bolero đầu tiên ở Việt Nam?


Câu hỏi của nhà báo Hà Đình Nguyên là một chất vấn xác đáng và cần thiết, nhất là trong bối cảnh lịch sử âm nhạc Việt Nam còn không ít khoảng mờ và các dòng nhạc du nhập thường giao thoa, khó phân định ranh giới rạch ròi. Việc xác định một bản nhạc được xem là đầu tiên trong một dòng chảy âm nhạc như Bolero không thể dựa vào cảm tính, mà đòi hỏi sự khảo cứu kỹ lưỡng từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau.

Thực ra, băn khoăn của anh Nguyên cũng là điều nhiều người yêu nhạc từng đặt ra. Rằng liệu có đủ căn cứ để xác định “Nắng chiều” là bản Bolero đầu tiên được viết tại Việt Nam? Câu hỏi ấy, bên cạnh giá trị học thuật, còn gợi mở một không gian rộng hơn – không gian của ký ức nghệ thuật, của những dấu mốc mở đường và cả một niềm tự hào lặng lẽ nơi những ai đã yêu và gắn bó với Bolero qua nhiều thế hệ.

XÃ TẮC 社稷 - Nguyễn Việt sưu tầm



là thần Đất.
TẮC là thần lúa. (Tắc là một thứ lúa, hột gạo màu vàng, xưa cho là đứng đầu các thứ lúa gạo, nên thần coi các thứ lúa cũng gọi là Tắc).
Xã tắc ban đầu chỉ thần đất và thần lúa, rồi mang nghĩa “chỗ tế thần đất, thần lúa”. Chỗ tế này được gọi là XÃ TẮC ĐÀN (社稷壇), là một trong các loại đàn tế cổ, được các vị Vua cho lập để tế Xã thần (Thần Đất) và Tắc thần (tức Thần Nông) - hai vị thần của nền văn minh lúa nước.
 Xưa kia, hễ họ vua này mất về họ vua kia, thì nơi thờ thần XÃ-TẮC cũng đổi thay theo. Vì thế, XÃ TẮC mở rộng nghĩa là “đất nước” và thường được gộp chung với “giang sơn” để có cách gọi  “giang sơn xã tắc”.
 
                                                                           Nguyễn Việt sưu tầm

KIM DUNG VIẾT “TRIỆU MINH” HAY “TRIỆU MẪN”? - La Thụy sưu tầm và biên tập

Nhiều người cho rằng dịch giả Từ Khánh Phụng trước 1975 trong bản "Cô gái đồ long" dịch sai tên nhân vật là TRIỆU MINH 趙明. Các bản dịch "Ỷ thiên đồ long ký" hiện nay nhân vật này là TRIỆU MẪN 赵敏
 

Facer John Tran lên tiếng: 
"Bản gốc đăng lần đầu trên Minh Báo viết 趙明 TRIỆU MINH, bản phim do TVB sản xuất năm 1978 cũng ghi tên nhân vật là 趙明  TRIỆU MINH,
Kim Dung không đặt’ thì ai đặt? Trước khi chỉ trích dịch giả, làm ơn tìm hiểu bản gốc của đoạn mình đang chỉ trích."
 
Tự điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi:
 
"Trong bản in lần thứ nhất của Ỷ thiên đồ long ký, Triệu Mẫn có tên là Triệu Minh (Zhao Ming), tên thật là Minh Minh Đặc Mục Nhĩ (Mingming Temür), phong hiệu là Triệu Minh quận chúa. Trong bản in lần thứ hai, Triệu Minh đổi tên là Triệu Mẫn (Zhao Min) 赵敏, tên thật là Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ (Minmin Temür), phong hiệu là Triệu Mẫn quận chúa. Triệu Minh hay Triệu Mẫn đều là tên Hán do cô tự đặt cho mình.
Kim Dung miêu tả về Triệu Mẫn như sau: "Xinh đẹp vô cùng, nhan sắc diễm lệ, mặt sáng như ngọc, mắt trong như nước, nét cười dịu dàng, diễm lệ. Chỉ trong một hai câu nói cũng không thể miêu tả được hết vẻ đáng yêu, thuần khiết và xinh xắn của nàng".
 
Hình lấy từ trang face của John Tran

Triệu Mẫn quận chúa có sắc đẹp, kiêu hãnh, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người, được cha hết mực nuông chiều, mời nhiều cao thủ võ lâm về dạy võ công cho nàng, lại cho phép nàng tự do đi lại trên giang hồ. Trong số các thuộc hạ của Triệu Mẫn có các nhân vật võ công rất cao cường như Huyền Minh Nhị Lão, A Nhất, A Nhị, A Tam... Chính vì thế mà nàng rất độc ác, bắt nhốt các người của lục đại môn phái, rồi còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.
 
Triệu Mẫn xuất hiện lần đầu trong tác phẩm khi sử dụng Thập Hương Nhuyễn Cân Tán (十香軟筋散) để đầu độc người của Lục đại môn phái trong võ lâm, tàn Sát Thiếu Lâm tự, giả dạng Trương Vô Kỵ lên đánh Võ Đang nhắm vào Trương Tam Phong, lừa Trương Vô Kỵ vào Ngục Tối, lừa bắt võ lâm nhốt vào Vạn An Tự, bao gồm cả Võ Đang thất hiệp và Diệt Tuyệt Sư Thái của phái Nga Mi. Họ đều bị Triệu Mẫn bắt và giam giữ trong Vạn An tự. Khi thấy lục đại môn phái đã đình chiến với Minh giáo, Triệu Mẫn đã quyết định dụ Trương Vô Kỵ, chưởng môn mới của Minh giáo, vào bẫy để bắt trọn. Cô dụ Trương Vô Kỵ đến Lục Liễu sơn trang, trong khi Vô Kỵ không hề biết thân phận thật sự của cô. Sau đó, Triệu Mẫn để lại thanh Ỷ Thiên kiếm và vào trong. Mọi người tò mò, rút thanh kiếm ra thì hóa ra đó là một thanh kiếm gỗ thơm ngát và sau đó khi ra khỏi sơn trang tất cả đều cảm thấy choáng váng vì trúng độc. Khi Trương Vô Kỵ quay lại sơn trang, xin Triệu Mẫn thuốc giải độc, cô bèn lừa Trương Vô Kỵ rơi vào hầm tối, nhờ trí thông minh chàng đã thoát khỏi bàn tay của Triệu Mẫn, đem thuốc giải độc về cứu quần hùng Minh giáo.
 

Triệu Mẫn cũng cho thấy sự khôn ngoan của mình khi lừa được các nhân sĩ võ lâm các phái phô bày các chiêu thức của họ và học trộm võ công các phái. Cô nói dối rằng cô sẽ để cho họ tự do nếu họ đánh thắng được người của cô, trong khi mình thì học trộm chiêu thức của đối phương, những người cứng rắn sẽ bị cô chặt đứt rời một ngón tay. Mặc dù là kẻ thù của Trương Vô Kỵ, nhưng cô lại phải lòng chàng. Cô đã đem Hắc ngọc đoạn tục cao tặng cho chàng để chàng chữa trị vết thương cho tam sư bá, chuộc lại lỗi lầm cho cha mẹ mình ngày xưa. Thông minh, chân tình, Triệu Mẫn trước sau vẫn giữ cốt cách của một phụ nữ giàu tình cảm hơn là một quận chúa Mông Cổ. Cô đánh nhau với Trương Vô Kỵ khi Trương Vô Kỵ cứu Võ Lâm thoát khỏi đám cháy của Vạn An Tự, khi Trương Vô Kỵ đang từng bước lấy được lòng tin của Võ Lâm về Minh Giáo thì Triệu Mẫn lại mời chàng cùng mình uống rượu sau một cuộc chiến máu tanh khiến quần hùng không khỏi có ý nghĩ nghi ngờ Trương Vô Kỵ, lại ra quán rượu ngồi đợi chàng trai, mong cùng đối ẩm với nhau mấy chung và quên hết những chuyện đốt chùa, giết người Mông Cổ, cứu quần hùng Trung Hoa của tập thể Minh giáo.
 
Cuộc đời của cô là một chuỗi tháng ngày rong ruổi theo tình yêu. Cô đã yêu cầu cho mình được đi theo trong các chuyến đi, như là một trong ba điều kiện cô bắt Vô Kỵ phải hứa nếu muốn cô thả các nhân sĩ võ lâm ra. Ở Linh Xà đảo, cô tỏ tình với người mình yêu cũng rất mạnh mẽ nhưng không kém phần chân thành, giản dị, đáng yêu, không e dè khép nép như những cô gái Trung Hoa. Cô đã cầm Ỷ thiên kiếm, lăn xả vào đám sứ giả Ba Tư và đánh những chiêu cận chiến có thể khiến mình và kẻ thù cùng chết để cứu chàng Trương Vô Kỵ. Khi Vô Kỵ hỏi tại sao cô liều mạng như vậy, cô đã trả lời thẳng thắn: vì Trương Vô Kỵ ôm lấy Ân Ly trước mặt cô. Thời thơ ấu, Vô Kỵ đã cắn vào bàn tay Ân Ly một cái đến chảy cả máu, khiến Ân Ly nhớ hoài hình bóng Trương Vô Kỵ. Triệu Mẫn cũng làm như thế: cô cắn vào tay Trương Vô Kỵ một cái để Trương Vô Kỵ nhớ cô trọn đời. Thực ra cô không làm như vậy thì cũng đủ để Vô Kỵ chọn cô làm người bạn gái tâm đầu ý hợp. Nhưng sau đó, cô đã bị Vô Kỵ hiểu lầm là người đã giết Ân Ly và đánh cắp hai thanh Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao. Sự thật, chính Chu Chỉ Nhược, người lấy được mật tịch trong 2 thanh kiếm, đã đổ oan cho cô. Khi Trương Vô Kỵ gặp lại Triệu Mẫn, chàng đã muốn giết cô nhưng không thể vì chàng nhận ra là đã yêu cô.
 
Theo diễn biến của câu chuyện, tình cảm ôn nhu giữa Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ngày càng nảy nở, mặc dù họ bị ràng buộc trong tình yêu tay ba với Chu Chỉ Nhược. Khi Vô Kỵ quyết định cưới Chỉ Nhược, Triệu Mẫn đã xuất hiện để ngăn cản và bắt chàng phải thực hiện điều kiện thứ hai là chàng không được kết hôn với Chỉ Nhược. Lúc đầu, Vô Kỵ từ chối, nhưng về sau, chàng lại chấp thuận khi Triệu Mẫn nói với chàng rằng cô biết tung tích của Tạ Tốn, nghĩa phụ của chàng. Tức giận, Chu Chỉ Nhược đã dùng Cửu Âm Bạch Cốt Trảo để đánh cô nhưng được Vô Kỵ cứu thoát. Sau này, khi Vô Kỵ đã bị vây, sắp bị quân Nguyên bắt, cô đã nói dối cha và anh rằng nếu họ giết Vô Kỵ thì cô cũng tự tử theo chàng cho trọn mối tình.
 
Cuối cùng, Trương Vô Kỵ nhận ra rằng Triệu Mẫn mới chính là tình yêu đích thực của đời mình. Cả hai quyết định rửa tay gác kiếm, rút khỏi giang hồ sau khi Vô Kỵ tưởng rằng thuộc cấp của chàng định âm mưu giết chàng để tranh giành quyền lực. Chàng đã nhường lại chức giáo chủ Minh giáo cho Quang Minh tả sứ Dương Tiêu, quay về Mông Cổ theo lời hứa mà Vô Kỵ hứa với Chu Nguyên Chương, sống một cuộc sống mới giản dị và hạnh phúc bên Triệu Mẫn đến suốt đời. Trong tập cuối, Triệu Mẫn yêu cầu Vô Kỵ thực hiện điều kiện thứ ba là mỗi ngày, đều giúp cô kẻ chân mày."
 
                                                             La Thụy sưu tầm và biên tập

PHONG CÁCH ĐỘC ĐÁO VÀ KHÁC BIỆT TRONG THƠ VỀ RƯỢU CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN – Nguyễn Toàn Thắng

                (Bài viết có dùng thông tin tổng hợp từ Chat GPT)

Tác giả Nguyễn Toàn Thắng (bìa trái) cùng Đặng Xuân Xuyến (bìa phải)
 
 Thơ viết về rượu của Đặng Xuân Xuyến có một vị trí riêng biệt và khá độc đáo trong bối cảnh thơ Việt hiện đại, khác biệt so với cả hai xu hướng chính là "thơ thị trường hóa" và "thơ học thuật hóa". Ông tạo ra một phong cách riêng và khác biệt ở chỗ: không quá trau chuốt về mặt hình thức nhưng lại rất chân thật và đậm chất đời sống với ngôn ngữ thuần dân gian, có chút ngang tàng, đôi khi lại cố tình “tục hóa” để phản kháng sự giả dối hay sáo mòn của văn chương bác học, đặc biệt là trong việc thể hiện nỗi cô đơn và những trải nghiệm cá nhân. Ông không cố gắng tạo ra tượng đài tư tưởng, mà là người "giữ ký ức bằng ngôn ngữ", "ghi lại những chấn động ngắn ngủi của tâm hồn" một cách sắc hoặc mờ, nhưng luôn thật. Ngay cả khi miêu tả cảnh xác thịt, đó là cái "tục của người từng trải", mang ý nghĩa nhấn mạnh phận người chứ không nhằm mục đích gây sốc hay dơ bẩn.
 
So với các nhà thơ đương đại khác, thơ của Đặng Xuân Xuyến có thể được coi là độc đáo khi ông không ngại ngần phơi bày những góc khuất, những điều tiêu cực của cuộc sống và đối diện trực tiếp với những góc khuất, những điều tiêu cực đó, điều mà nhiều nhà thơ đương đại khác thường tìm cách né tránh. Ông không dùng rượu để giải thoát hay tìm kiếm những điều siêu nhiên mà thay vào đó, rượu được ông đặt trong bối cảnh đời thường, gắn liền với những nỗi niềm, trăn trở của cuộc sống hiện thực. Ông sử dụng rượu như một công cụ để đối diện với những khó khăn, thử thách và cả những nỗi buồn, mất mát trong cuộc sống, chứ không phải để trốn tránh hay quên lãng.

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

“VIỂN VÔNG" HAY “VIỄN VÔNG"? - Tiếng Việt giàu đẹp



Nguồn: Tiếng Việt giàu đẹp

“Thực tế chút đi, đừng có mà…”. Trong trường hợp này, ta cần điền gì vào dấu ba chấm? “Viển vông" hay “viễn vông"?
 
Nhiều người căn cứ vào chữ “viễn" với nghĩa “xa xôi" mà kết luận “viễn vông" là cách dùng đúng. Thực tế, các tư liệu chúng tôi tra cứu được đã phản ánh điều ngược lại. 
Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giảng: 
“Viển vông: Vu vơ, không có bằng chứng gì cả: Câu chuyện viển vông”. Từ điển tiếng Việt do cụ Hoàng Phê chủ biên cũng ghi nhận: “Viển vông: rất xa rời thực tế, không thiết thực: Mơ ước viển vông. Chuyện viển vông”…
Như thế, “viển vông" mới là từ chính xác.
 

BÁT NHÃ TÂM KINH VÀ TUỆ GIÁC “ĐÁO BỈ NGẠN” - Huỳnh Duy Lộc



Bát nhã tâm kinh (Prajnaparamitahridaya-sutra; Đoàn Trung Còn dịch là Bát nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh) là một bản văn rất ngắn của Phật giáo Đại thừa được chép và đọc nhiều nhất ở Đông Á và Trung Á. Chỉ trong một trang, với những câu chữ được cho là của Bồ tát Quán Tự tại (Avalokitesvara; Đoàn Trung Còn dịch là Quán Thế âm, Quán Tự tại), Bát nhã tâm kinh luận giải học thuyết về tính Không (Sunyata) được cho là bản chất của thực tại.
Nhà sư Trần Huyền Trang (602-664) đã dịch Bát nhã tâm kinh từ tiếng Phạn sang Hán tự vào năm 649 như lời của đại sư Daisetz Teitaro Suzuki: “Bát nhã tâm kinh là một bản văn ngắn nhất về Bát nhã ba la mật đa (Prajñāpāramitā). Huyền Trang dịch Tâm kinh ra Hán ngữ vào năm 649…”
                                                               (Thiền luận, tập 3, tr.211).

NGUYÊN VĂN HAI CÂU THƠ CỦA BÙI GIÁNG – Dũng Hoàng

Nhân có một người hỏi Bùi Giáng viết:
“dạ thưa (1) bây giờ / vẫn còn (2) bên bờ (3)”...

Thì:
(1) là "xứ Huế" hay "phố Huế"?
(2) "núi Ngự" hay "núi ngự?"
(3) "sông Hương" hay "sông hương"?
Xin trình làng nguyên văn bài thơ của thi sĩ đăng trên tạp chí Tư Tưởng, số 1, ngày 15 tháng 3 năm 1971, trang 49.


                                                                                      Dũng Hoàng

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2025

“SĂM SOI” VÀ “XĂM XOI” - Hoàng Tuấn Công



Vua Tiếng Việt (11/7/2025) yêu cầu “Hãy viết lại cho đúng từ sau: “xăm xoi”. Người chơi viết lại “săm soi”, liền được MC Xuân Bắc xác nhận là “Chính xác. Chúc mừng bạn”.
Như vậy, theo Vua Tiếng Việt, viết “xăm xoi” là sai chính tả.
Thực ra, “xăm xoi” không phải là lỗi chính tả của “săm soi”, mà đây là hai từ khác nhau.
 
1-SĂM SOI

“Săm soi” là gì?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - Vietlex) ghi cho săm soi 2 nghĩa: “1 ngắm đi ngắm lại một cách thích thú. săm soi mình trong gương ~ “Long chìa ra một chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Seiko, săm soi giữa lòng bàn tay.” (Cao Duy Thảo). Đn: săm se; 2 nhìn với vẻ hết sức chú ý, như để phát hiện đến từng chi tiết nhỏ. “Những nhà có máu mặt trong khu này thuê bà gánh nước. (…) Họ săm soi xem thùng nước bà gánh về có trong không.” (Võ Thị Hảo). Đn: săm se”.
Chữ “săm” gốc Hán do chữ “thám” có nghĩa là dò xét.
Mối quan hệ TH↔S (thám↔săm), ta thấy xuất hiện trong rất nhiều trường hợp khác như: thâm ↔sâu; thiết ↔sắt; thải ↔sảy; tháp ↔sập (cái sập); tháp ↔sụp/sập (đổ sụp/sập),…Mối quan hệ AM ↔ ĂM, ta có thám ↔thăm; đam ↔đăm/chăm; đàm ↔chằm; đạm ↔đằm; khảm ↔khăm (cái khăm, chơi khăm),…
Với chữ “soi”, gốc Hán do chữ “chiếu” nghĩa là soi, rọi. Mối quan hệ CH↔S, ta còn thấy trong nhiều trường hợp khác như: chẩn ↔sần/sởi (sần sùi; sởi = thứ bệnh gây sốt, nổi mụn đỏ); chẩn ↔soi tìm/xem xét (trong chẩn bệnh); chu ↔son (son trong đỏ như son). Mối quan hệ IEU↔OI, như khiếu ↔gọi; khiêu ↔khơi/gợi; liễu↔rồi; triệu ↔mòi/vòi (dấu hiệu, triệu chứng); triệu ↔vời/mời/đòi,…
Trong tiếng Hán, từ thám chiếu 探照 (săm soi), được Hán ngữ đại từ điển giảng là thám tầm chiếu xạ 寻照射, nghĩa là dò tìm, soi rọi, mang nét nghĩa gần giống săm soi trong tiếng Việt.
 

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2025

MẮT EM NHÉ ÓNG ÁNH MUÔN NĂM ĐỜI THANH BÌNH – Thơ Trần Vấn Lệ




Hôm nay hy vọng mát hơn hôm qua một giờ...
thì mùa Thu như mơ đã đến gần sự thật!
 
Sự thật giống như mật, nói mãi để bắt thèm!
Anh vẫn nghĩ tới em:  Vầng Trăng Tròn Tháng Sáu!
 
Tháng Sáu nhuần không bão, không cả mưa, nắng hoài...
Sự thật thật mỉa mai vì vẫn chưa sự thật...
 
Năm nay, năm dài nhất ba trăm chín bốn ngày...
Người mình ăn Tết Tây, Tết mình... mình quên, dám?
 
Năm mốt năm yên ổn... vì hết muốn chiến tranh!
Hòa hợp hòa giải thành giấc Nam Kha chớp mắt...
 
Mạ không còn ngồi nhặt những giọt lệ không khô!
Ba cựa mình dưới mồ, chuyện nói đùa cho có?
 
Chỉ lạ là con thỏ, hai mắt nó tròn xoe...
Chỉ lạ là bờ tre, xóm làng che mưa nắng...
 
Đường xa xa muôn dặm.  Đường Thiên Lý Thiên Thu!
Ai thắp nhang không cầu:  "Đời đừng thành tro bụi"?
 
Bây giờ, tôi đang nói:  Chưa Bảy Giờ Buổi Mai...
Bầy chim thức, đã bay.  Sương Hàng Cây Bạc Tóc!
 
*
Em ơi em!  Đừng khóc... Biển tự nhiên mà đầy...
Đời Nam Bắc Đông Tây...những dòng thơ cứ chảy.
 
Thơ anh làm để đấy chắc rồi gió sẽ tan...
Anh nhớ thơ Thế Viên... Nhớ!  Vì nó "tồn tại":
 
"Sáng nay trên bờ sông thấy em bên song cửa
mây trắng bay tần ngần tóc em vàng một nửa...
Tôi nhìn xa chợt nhớ trăng-mùa-Thu-năm-nao
soi bóng người song cửa.  Lòng bỗng dưng nghẹn ngào!
Vì sao tôi thương nhớ?  Bởi vì quá nhớ thương!
Dòng sông trôi thê lương..."
 
Một giờ nữa còn sương, chắc hôm nay sẽ lạnh...
Mắt em nhé, óng ánh, Muôn Năm Đời Thanh Bình!
 
                                                              Trần Vấn Lệ

LỐI VỀ ĐẤT MẸ - Đinh Hoa Lư

Thân tặng những người Quảng Trị từng ra đi và đã thành công nơi xứ người. (Đinh Hoa Lư)


Người Quảng Trị tha hương không phải đợi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, lúc khói lửa chiến tranh điêu tàn phủ chụp lên quê hương bản quán khiến hàng vạn người phải ly hương thất sở. Đó là dấu ấn u buồn đau khổ khó ai quên. Có những thế hệ trưởng bối đã "khăn gói" lên đường xa rời Quảng Trị từ trước. Những lớp trai nuôi mộng tương lai, xây dựng sự nghiệp từng ra đi với bao hoài bão trong đời.

CHÙM THƠ CÒN NGÂU CỦA ÁI NHÂN

“Ngàn năm khóc một mối tình
Hạt ngâu rơi lõm mái đình thờ yêu” – AN
 
  
         ÁI NHÂN
         ĐT: 0984470914
         ĐC: 84 Ngõ 27 Long biên 1, Ngọc lâm, Long biên, Hà nội
         TK: 10524096395016 Tecomban


CÒN NGÂU

Nỗi buồn mọc đứng như cây
Trải tình yêu giữa trang phây khoe người
Hồn nhiên khi khóc lúc cười
Chang chang nắng bỗng bời bời trở mưa
 
Mắt người sắc tựa dao cưa
Liếc ngang một cái dư thừa nỗi đau
Gót hồng giẫm nát hồn nhau
Lời thương dạo trước… còn ngâu đến giờ
 

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2025

NHỚ MẸ - Thơ Đặng Xuân Xuyến


   
 
 
Lòng quặn thắt
Nhớ những chiều nắng tắt
Kẽo kẹt gánh rau mẹ vội về nhà
Dáng mẹ xiêu xiêu run rẩy chiều tà
 
Cha ở phương xa
Chúng con còn bé dại
Gánh nặng gia đình trĩu nặng đôi vai
Sương buốt sớm mai
Nắng táp trưa hè nhễ nhại
Mẹ gửi đồng xa tiếng cười
Mẹ mong đơm mùa trĩu hạt
Nhọc nhằn nhuộm lời mẹ hát
 
Ngửa mặt nhìn trời tay con nắm chặt
Nước mắt ngược vào tim mặn chát
Con muốn hỏi trời cao
Con muốn cào đất rộng
Đâu là lẽ công bằng
Mẹ một đời nhân hậu thẳng ngay
Sao lắm cơ cực đắng cay
Lặng thầm qua đời mẹ
Tan nát lòng con trẻ
 
Con về thăm mẹ
Thơ thẩn vào ra hương khói nghẹn ngào.
 
Làng Đá, 02 tháng 07.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

HÔM NAY TRỜI KHÔNG MÂY DÙ CẢ NGÀY IM GIÓ - Trần Vấn Lệ



Hôm nay trời không mây dù cả ngày im gió.  Buồn thương màu hoa cỏ, nắng, nóng, lợt, tàn, phai...
 
Mai chắc như hôm nay - cái mùa Hè dễ ghét, nóng như quân Bắc Việt dọa đi đánh Bắc Kinh!
 
Tôi không hiểu sao mình... nhớ Nước Non đủ kiểu!  Có lẽ Tàu mắc chịu dân mình nợ máu xương?
 
Chuyện đã ngàn năm hơn có ghi thời Bắc Thuộc.  Cột đồng nó dựng trước, tên nước nó đặt sau...
 
Bây giờ vẫn đỏ au cái màu cờ giống nó!  Nó bày điều dâu bể, nó giải nghĩa tang thương...
 
Nó đưa tàu Hải Dương vào biển mình xục xạo.  Nó dạy mình nói láo, nó dụ mình pháo hoa...
 
*
Chừng nào buồn trôi qua... như mây hôm nay vắng?  Chừng nào mà cái nắng dịu lòng người tha hương?
 
Nhớ bài thơ Nước Non Tản Đà làm muốn khóc!  Nhớ Bà Huyện Thanh Quan nhắc tiếng con chim Quốc rồi nhìn chiều rơi đang sâu!
 
Ngày sẽ rơi về đâu?  Về đầu non cuối biển?  Buồn có ai xao xuyến vài câu thơ nao nao? 
 
"Anh đi hả?  Anh đi đâu?  Cánh buồm nâu... cánh buồm nâu... Cánh buồm!" (*).  Hai câu thơ như chuông Giáo Đường vừa rụng xuống!
 
                                                                                       Trần Vấn Lệ
(*) Thơ Nguyễn Bính

GIỌT TRẦM VU LAN, NGÓ VỀ QUÊ MẸ, KHÚC RU TÌNH MẸ - Thơ Tịnh Bình


   

 
GIỌT TRẦM VU LAN...
 
Mẹ yêu con... Lẽ tất nhiên vẫn thế
Bởi ngàn đời nước mắt cứ chảy xuôi
Tình rộng lớn chẳng bao giờ đong đếm
Nghĩa mẹ công cha như núi ngất trời

Con khôn lớn trong vòng tay ấm áp
Nên vóc nên hình từ huyết mẹ tinh cha
Bao sương gió mẹ gánh gồng tất cả
Con vào đời nâng đôi cánh bao la

Nhưng năm tháng cứ trôi về phía trước
Mẹ già rồi... Bạc trắng mái đầu cha
Con kiêu hãnh tự cho mình tài giỏi
Những bước chân xa mãi một mái nhà

Cha già rồi... Mẹ sao mà lẩm cẩm
Thật là phiền con ngao ngán thở than
Nuôi cha mẹ con đếm đong ngày tháng
Công biển trời bao lai láng đành quên
 
Mẹ già rồi... Đâu "dám trách" con ơi!
Cha lặng lẽ thu mình vào một góc
Chữ hiếu là chi ? Con chưa được học
Tháng Bảy giọt trầm... Bật khóc đóa Vu Lan...
 

BA TÔI VÀ NỖI NIỀM NHUNG NHỚ QUÊ TRUỒI – Đinh Hoa Lư


             
                      Một sớm mưa chiều tôi rời thành xưa
                      Sông nước tiêu diều nhỏ lệ buồn đưa...
                                               (Phạm Mạnh Cương)

Tưởng nhớ hương linh Thân Phụ
 
Cơn mưa giông vùa dứt để lại một lớp không khí trong lành, mát rượi lan tỏa khắp xóm. Ba tôi ngồi yên lặng trên cái giường ọp ẹp dưới mái tranh của căn phòng lồi đằng trước nhà. Hôm nay Người cứ mãi nhìn qua khung cửa sổ khoét vội qua lớp lá buông vàng úa, cũ nát. Trong không khí ẩm thấp sau cơn mưa dưới mái nhà tranh nhỏ bé, căn nhà tranh thấp lè-tè như rên rỉ, kẻo-kẹt, lắc mình theo từng cơn gió giật. Cứ mỗi trận giông trời lại kèm theo loại gió mạnh ở vùng biển Hàm Tân.
- Hết rồi
Ba tôi nhẹ nhỏm người. Cứ mỗi lần mưa to gió lớn là ngưởi phập phồng lo sợ cho số phận mái tranh, nơi trú ngụ duy nhất cho cả gia đình.
 
Hình 1984: Tết 1984 vợ chồng tác giả ĐHL lúc mới có con trai đầu lòng, đang đứng trước căn nhà lá và phòng lồi của thân sinh (bức hình được một Việt kiều từ Tây Đức về thăm chụp tặng cho)
 
 Cuối cùng mọi chuyện cũng yên.
. Xuyên qua khung cửa sổ khoét vội ba tôi lặng yên ngắm cây phượng con, Người kiếm đâu dưới La Gi nhân đi có công chuyện. Cây phượng con coi bộ cũng hạp thứ đất ở cái xóm cát Động Đền này một thứ đất đen pha cát nên cây phượng lớn thật nhanh. Mới năm ngoái giờ thế mà nó đã vươn lên ngót nghét gần hai mét rồi.

CHÍN VỘI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Chín Vội
1.
 
Gặp nhau ngày ấy Em – Anh
Tình yêu sét đánh mà thành dài lâu
Tình yêu chín vội, đậm sâu
Nồng nàn mình đã với nhau giao hòa…
Gom màu nắng đẹp hoàng hoa
Ướp hương trinh nữ rải tà áo bông
Em giờ mắt biếc môi hồng
Lời yêu thỏ thẻ tình nồng trong thơ
Em giờ ươm mộng dệt mơ
Tóc bay theo gió ngẩn ngơ đôi bờ
Chờ nhau chin đợi, mười chờ
Thầm thì em nói: “Em giờ của anh
Tình mình riêng chỉ có mình
Tim em ngự trị bóng hình anh thôi…”
Nhớ thương, thương nhớ khôn nguôi
Ông Tơ, Bà Nguyệt buộc đôi chúng mình...
 
2.
 
Phút giây lắng đọng lòng mình
Bồi hồi thương nhớ bóng hình người mơ
Nhớ em, nhớ đến thẫn thờ
Lòng buồn anh viết bài thơ muộn màng
Còn đây hai chữ “Hợp – Tan”
Sắt son dang dở, đá vàng dở dang
Cuộc tình lắm nỗi ngỡ ngàng
Trời đang nắng gắt, vội vàng đổ mưa
Còn đâu ngày ấy…  Ngày xưa…
Cái thương, cái nhớ nắng mưa tiêu điều
Đường tình em rẽ ngược chiều
Cho anh phải nhớ, phải yêu trọn đời
Mùa về hoa Phượng đầy trời
Hương thầm nhắc nhở một thời bên em
Tìm em như thể tìm chim…
Em đi biệt xứ biết tìm phương nao…
 
                    Nha Trang, tháng 09. 2025
                            Lê Kim Thượng

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2025

“CHÍN CHIỀU RUỘT ĐAU” (CỬU KHÚC HỒI TRƯỜNG) NGHĨA NHƯ THẾ NÀO? - Lê Vĩnh Húy

“Ruột đau chín chiều” là giống ôn gì?
Là do thành ngữ “Cửu khúc hồi trường” 九曲回腸 của Tàu, dùng tả trạng thái đau đớn hoặc lo lắng.
Cửu là chín, ý nói số nhiều. Khúc là chỗ uốn cong, chỗ ngoặt. Hồi là trở lại. Trường là đùm ruột.
Hình tượng Cửu khúc hồi trường nầy bắt nguồn từ hình dạng quanh co của đùm ruột, mượn đó để ẩn dụ chỗ rối rắm, phức tạp của cảm xúc nội tâm. Thành ngữ nầy thường dùng tả nỗi đau khổ của con người, hoặc cảnh tượng quanh co, khúc khuỷu của địa thế.