BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

ÁI ƯU 愛憂 - Bài viết của Khánh Ly, Trích từ Tri thư đạt lễ



Ái ưu, chữ Hán viết 愛憂. Trong đó Ái là yêu thương, gắn bó; Ưu là lo lắng, trăn trở. Ái ưu diễn tả một mối quan hệ thừa tiếp rất đỗi tự nhiên của con người - vì yêu nên mới sinh lo, mà nỗi lo ấy cũng chính là biểu hiện của tình yêu.

Từ đây trong văn chương và các trước tác cổ, người ta thường phát triển thành những cụm từ quen thuộc như Ưu quốc ái dân 憂國愛民 hoặc Ưu dân ái quốc 憂民愛國, nghĩa là lo cho dân, cho nước và yêu dân, yêu nước. Đây là một lý tưởng sống lớn lao và là phẩm chất đạo đức quan trọng, đặc biệt là đối với kẻ sĩ: Đặt bản thân vào mối quan hệ với quốc gia và sinh dân, xem trách nhiệm gánh vác nỗi lo chung như một điều hiển nhiên.

Điều thú vị là khi đi vào tiếng Việt, người ta quen nói “yêu nước thương dân” chứ không phải “lo nước yêu dân” theo như trật tự “ưu quốc ái dân” trong Hán văn. Có lẽ vì “yêu nước” vốn đã là một cụm từ ổn định từ lâu, trong đó gói gọn ý thủy chung, gắn bó lẫn trách nhiệm với đất nước nên được dùng để chuyển tải nghĩa “ưu quốc”. Còn “thương dân” lại gần với sắc thái của “ái dân” hơn, bởi chữ “thương” gợi sự xót xa, chăm lo,... đó cũng là một biểu hiện của tình yêu. Cho nên cặp từ “thương” - “yêu” đăng đối vừa cân xứng vừa thuận tai, lâu dần đã trở thành cách nói quen thuộc.

"Phận thường bé nhỏ nữ lưu,
Muôn trông xét biết ái ưu ghi lòng.
Sách vàng rờ rỡ ban phong,
Những lo xứng chỉ, lấy trung báo đền.
(Thơ khuyết danh)
"Khê sơn cảnh lạ nào đâu thiếu?
Phong nguyệt kho đầy của ấy thừa.
Dẽ có nơi khôn mạc được:
Ái ưu khăn khắn một lòng sơ.
                   (Lê Thánh Tông)

"Lẩn thẩn ngày qua tháng qua,
Một phen xuân tới một phen già.
Ái ưu vằng vặc trăng in nước,
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa.
Án sách hãy còn án sách cũ,
Nước non bạn với nước non nhà."
                 (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
 
Bài viết của Khánh Ly
Trích từ Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Không có nhận xét nào: