BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU, RU KHÚC VE TRƯA, NGOẢNH NHÌN HẠ CŨ – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU...
 
Phía biển xa kia là gì ?
Sao cánh buồm xuôi mãi
Chân trời màu đỏ thẫm
Vời vợi mắt hoàng hôn
 
Có hay không niềm bình yên vĩnh cửu
Cánh thiên di lưu trú tận đường trời
Tiếng gọi nào hư thực
Một lần dắt ta đi...
 
Lay đơn độc mùi khói hương không tuổi
Quay mặt lại là bờ bến cũ
Những bông hoa dệt nghìn tia ánh sáng
Cố hương xưa muôn ức tinh cầu
 
Ta tìm bản thể ta
Chưa khôn khuây nỗi nhớ
Trước biển hỏi nghìn câu thinh lặng
Chỉ sóng bạc đầu mãi một ngôn âm...
 

ÔNG NGUYỄN PHI KHANH YÊN NGHỈ TRÊN ĐỈNH NÚI BÁO ĐỨC (CHÍ LINH) - Theo trang Giai Thoại Xưa



Mất ở Trung Quốc, vì sao thân phụ Nguyễn Trãi lại yên nghỉ trên đỉnh núi Báo Đức?
Có một ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đỉnh núi cao ở Chí Linh, muốn lên được đến nơi, có người phải đi từ sáng đến quá trưa mới trở xuống. Con đường ấy vòng vèo qua rừng, có đoạn dốc dựng, có đoạn cây cối che kín lối đi. Thế nhưng suốt nhiều đời qua, hậu duệ dòng họ Nguyễn Quy và những người yêu lịch sử vẫn tìm về nơi ấy để thắp hương cho một bậc đại nho đặc biệt: cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
 

"TÁM" MẤY CHUYỆN VỀ NỐT RUỒI – Đặng Xuân Xuyến



Sáng mấy hôm trước đi làm lại Căn cước ở trụ sở công an phường, anh công an lớn tuổi nhìn tôi ngạc nhiên hỏi: - "Anh mới tẩy nốt ruồi ở bên cánh mũi trái à?". Tôi ngớ người: - "Không! Mình cũng không biết mũi mình có nốt ruồi.". Anh công an ít tuổi nghe tôi nói vậy cứ tủm tỉm cười nhìn tôi đầy nghi hoặc. Tôi vội phân trần: - "Thật mà! Mình không hề biết mình có nốt ruồi ở mũi và cũng không biết tại sao nốt ruồi đó lại biến mất.". Có vẻ 2 anh công an đều không tin lời tôi nói vì việc một người không hề hay biết về một đặc điểm nhận dạng ngay trên khuôn mặt mình suốt mấy mươi năm là một điều vô lý.
 

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM, VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN – Thơ Đỗ Anh Tuyến


   

 
LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM
 
Tháng Năm rồi mà trời trở gió ngang
Chút rét mồ côi đậu trên nhành lá biếc
Anh đứng đợi em, lòng riêng thầm tiếc
Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt bàn tay.
 
Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ hây hây
Sen hồ kia đã bắt đầu xòe cánh mỏng
Ai biết được cái hanh hao se bóng
Lại tìm về giữa mùa hạ chói chang.
 
Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ ngàng
Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa
Em có đến hay em còn lần lựa
Sợ ngoài đường sương muối đọng vai thon.
 
Anh vùi tay sâu trong túi áo sờn
Nghe hơi thở hóa thành làn khói nhẹ
Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và khe khẽ
Dỗ dành anh bằng một chút heo may.
 
Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng đây
Gom hết gió mùa đông vừa lạc tới
Để lúc em sang giữa dòng người mải miết
Ủ ấm bàn tay, bù lại những hao gầy...
 

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

LẮNG LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


  

 
Lắng Lòng

1.
Lắng lòng rót mật vào thơ
Tình yêu tuổi nhỏ dại khờ mới nhen
Lần đầu gặp gỡ làm quen
Bỗng nghe “Tiếng sét…” gọi tên “Ái tình…”
Nắng rơi tia nắng lung linh
Gió bay tà áo dáng hình đắm say
Xin Trời sợi chỉ buộc tay
Tơ hồng kết nối ngày ngày yêu thương
Giọt sương trên lá còn vương
Gió lay khẽ rụng trên đường ướt vai
Tóc dài buông xõa chia hai
Bóng em trong nắng đổ dài tinh khôi…
Em ơi… chiều đã muộn rồi
Hoàng hôn tím cả một trời mênh mang
Lối về tím rụng hoa xoan
Tím màu chung thủy tím man mác buồn…
 
2.
Bây giờ dâu bể dị thường
Cách xa, xa cách bốn phương trời sầu
Vui thời cạn, buồn thời sâu
Nhớ em nỗi nhớ đậm màu thiết tha…
Người ta đi với người ta
Rượu nồng, pháo cưới, xe hoa, áo hồng
Chát chua, chua chát trong lòng
Tình chia hai ngả còn trông đứng ngồi
Nhìn nhau lần cuối rồi thôi
Giang đầu, giang vĩ xa xôi vô thường
Quay lưng chia biệt người thương
Bây giờ hai đứa ngược đường hiu hanh…
Xa nhau từ thưở tóc xanh
Bây giờ gặp lại tóc thành ánh kim
Tình xưa tưởng đã khuất chìm
Mà yêu thương cũ trong tim vẫn đầy…
 
            Nha Trang, tháng  05. 2026
                 LÊ KIM THƯỢNG

MẸ, CHÚT NẮNG ẤM GIỮA MIỀN HƯ KHÔNG – Đặng Xuân Xuyến

(Cảm nhận khi đọc “Mẹ là chút nắng cuối đông” của nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích)

Tác giả bài viết Đặng Xuân Xuyến

Chiều qua, nhận được tập thơ “LỐI VỀ”, món quà quý nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích gửi tặng, tôi ngồi chậm rãi đọc rồi bỗng khựng lại khi gặp bài thơ “Mẹ là chút nắng cuối đông” bởi những hình tượng ẩn dụ vừa lạ vừa quen, nơi “cái nắng cuối đông” mỏng manh lại trở thành biểu tượng bất diệt cho hơi ấm tình mẫu tử. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng hiếu nghĩa mà còn là một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm về lẽ vô thường và giá trị của sự hiện diện - một thông điệp nhân văn mà tác giả đã chắt chiu gửi gắm qua từng nhịp thở của chữ nghĩa.
 
MẸ LÀ CHÚT NẮNG CUỐI ĐÔNG
 
Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông
Đủ làm ấm, để em hồng đôi má
Mấy ai nghĩ yếu mềm như tàu lá
Mà lạt mềm gói chặt cái bên trong
 
Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông
Nhè nhẹ lắm như một làn hơi thở
Mẹ ra sưởi, mẹ ngồi trên bậu cửa
Mà liêu xiêu khi con ở xa về.
 
Không còn nồng như cái nắng hè kia
Không yếu đuối trong mưa phùn ẩm ướt
Mẹ ngồi đó là con còn có được
Sưởi ấm lòng dù chỉ nắng mùa đông.
 
Ừ! Biết rằng tất cả sẽ hư không
Chỉ xin giữ trong hồn hình bóng mẹ
Cao như núi, và rộng nào bằng bể
Xin vo tròn trong một chữ tình con.
 
                              Trịnh Đình Bích

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là . Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ và bên phải là chữ mỹ .
MẸ là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ , nữ là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.
 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

PHẠM THIÊN THƯ QUYẾT “GIỐNG” CỤ NGUYỄN DU - Tuệ Lãng

Vô cùng thương tiếc nhà thơ Phạm Thiên Thư, tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người 'thi hóa kinh Phật' vừa từ trần vào 16 giờ 15 phút chiều nay, 7-5- 2026

Phạm Thiên Thư,  khoái nhất là chuyện ông "rất giống" với cụ Nguyễn Du. Ông kể một tràng: "10 tuổi bố Nguyễn Du mất, tớ cũng vậy. Mẹ Nguyễn Du là một người phụ nữ đất quan họ Bắc Ninh, vợ lẽ dòng thứ hai. Gia đình cụ Nguyễn có bốn anh em, cụ lại sinh hạ được bốn người con (?). Tớ cũng y chang như vậy". Ông còn tâm đắc kể thêm "cụ Nguyễn và tớ đều là tú tài. Cụ Nguyễn lưu lạc 10 năm ở Thái Bình, còn bố tớ quê chính cũng là Thái Bình. Cụ Nguyễn mất năm 1840 (?), đúng 100 năm sau, 1940 tớ ra đời…".

Đọc những bài thơ tình của Phạm Thiên Thư, không ai nghĩ ông đã từng trên 10 năm xuất gia tu hành nơi cửa Phật.

"Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao"
                                   (Động hoa vàng).

Tiếng kêu của loài dị điểu trong thơ ông thật bi thảm, vừa cất lên đã rụng xuống dòng sông rộng. Cái chết sinh ra để phụng hiến tình yêu. Yêu đến buồn chết, thật là khó để người đời hình dung một tu sĩ có đời sống phong kín nơi cảnh chùa lại có ý nghĩ như vậy.