Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ
miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không?”
Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn
chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi
chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây "tội ác" nặng nề hơn
cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá".
Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời
đau thương của một vài người trong số họ:
Doãn
quốc Sỹ:
Sau 30/4/75, Thầy - tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt
văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn - ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng
dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch
nhắm vào "biệt kích văn hoá" của chính quyền mới. Thầy bị giam từ
1976 tại trại giam Gia Trung - Tây
Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong
khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm "Đi" dưới bút hiệu Hồ
Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng
5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ
phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn
bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa".
Duyên
Anh:
Sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 6 năm từ 76 đến 81. Ông
bị giam tại trại giam Đầm Đùn, mà sau này ông mô tả trong cuốn “Trại Đầm
Đùn" đầy sự kinh khủng của cái đói, cái rét và sự khắc nghiệt. Năm 1983,
ông vượt biên sang Pháp. Năm 1988, ông bị hành hung bởi những người Việt cực
đoan tại Mỹ vì những quan điểm chính trị trong quá khứ và hiện tại. Cuộc hành
hung gây cho ông thương tích khá nặng, nên sau đó ông bị tai biến và mất khả
năng nói và qua đời tại Pháp trong sự lặng lẽ.
Mai
Thảo:
Chỉ có cây đại thụ này né được nhà tù cải tạo nhờ trốn
tránh ẩn dật với nhiều tên giả ở Việt Nam sau 75. Đến năm 1977, ông đã trốn
thoát khỏi VN bằng đường biển. Sang Mỹ, ông sống cô độc và làm bạn với rượu và
cây viết. Ông định cư tại Cali và tiếp tục mở lại tạp chí Văn để gom góp những
mảnh vỡ của văn học miền Nam. Khi mất, ông để lại tập thơ "Ta thấy hình ta
là những miếu đền" - như một tiếng thở dài về sự tàn phai và thân phận lưu
vong.
Tô
Thùy Yên:
Ông được coi là nhà thơ lớn nhất với tư duy triết học
sâu sắc của miền Nam, nên ông là nhà thơ bị đi cải tạo lâu nhất, tổng cộng 13
năm. Năm 88, ông ra tù, ông viết "
Bài thơ Ta về" - một kiệt tác thời hậu chiến. Bài thơ không có sự hận thù,
chỉ có bao dung và nỗi buồn trước vận nước và lòng người. Năm 1993, ông sang Mỹ
và sống lặng lẽ trong tâm thế một người đã đi đến tận cùng khổ đau.
Thanh
tâm Tuyền:
Vừa là sĩ quan tâm lý chiến cấp Đại úy, vừa được coi
là nhà thơ khai phóng thể thơ tự do, vừa là nhà viết tiểu thuyết hiện sinh, nên
ông bị bắt đi cải tạo ngay sau 30/4 suốt 7 năm từ 75 đến 82. Trong tù, ngoài nỗi
đau thế xác, ông còn chịu một nỗi đau thầm kín là một người con ông bị mất tích
trên đường đi tìm tự do. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện H.O. Ông qua đời năm
2006 vì ung thư phổi.
Phan
nhật Nam:
Là sĩ quan binh chủng Dù và là nhà văn quân đội với những
bút ký chiến sự rực lửa, ông bị đi học tập cải tạo ngay sau 30/4. Ông chịu cảnh
tù đày suốt 14 năm qua nhiều trại giam khắc nghiệt từ nam ra bắc, trong đó có 8
năm biệt giam. Năm 1993, ông sang Mỹ định cư theo diện H.O.
Vợ
chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca:
Sau 30/4, cả hai vợ chồng đều bị bắt và liệt vào “biệt
kích văn hoá". Nhã Ca bị giam khoảng 2 năm và được thả về chăm sóc cho 6 đứa
con nhỏ. Còn Trần Dạ Từ phải chịu tù đày 12 năm từ 75 đến 88 tại nhiều trại
giam. Nhờ sự vận động của các tổ chức quốc tế và sự can thiệp của chính phủ Thụy
Điển, gia đình vợ chồng được bảo lãnh sang Thụy Điển vào tháng 9/1988.
Nhưng cũng có nhiều người không thể vượt qua sự khắc
nghiệt của trại cải tạo và đã chết.
Nguyễn
Mạnh Côn:
Ông bị bắt năm 1976 và đưa đi cải tạo ở trại giam
Xuyên mộc. Để phản đối chính sách của trại giam, ông đã tuyệt thực, và rồi kiệt
sức và qua đời ngày 1/6/1979. Khí tiết của ông được các bạn tù nhắc lại như một
huyền thoại về phẩm giá.
Hồ
Hữu Tường:
Một nhà trí thức, một nhà văn lớn cũng qua đời năm
1980 trong thời gian giam giữ tại các trại cải tạo.
Vũ
Hoàng Chương:
Bị bắt vào trại cải tạo sau 30/4 nhưng được thả về năm
76 vì bệnh tật, nhưng vì quá suy sụp sau thời gian bị giam cầm khiến ông qua đời
chỉ 5 ngày sau khi về nhà.
Hoạ
sĩ Choé:
Tên thật là Nguyễn Hải Chí, là một tài năng bẩm sinh,
nổi danh với những bức hí hoạ chính trị sắc sảo. Sau vài tháng làm báo với chế
độ mới, ông bị bắt đi cải tạo từ 76 đến 85. Sau khi ra tù, ông tìm cách vượt
biên nhưng không thành nên bị tù thêm một thời gian nữa. Năm 1997, ông bị đột
quỵ và hai mắt vị loà nên ông chuyển qua làm thơ. Cuối năm 2002, ông được đưa
sang Mỹ chữa trị nhưng không khỏi mù. Ông mất năm 2003 tại Virginia.
Số phận các nhà văn nữ ít nghiệt ngã hơn.
Nguyễn
Thị Hoàng:
Sau 75, bà cùng gia đình đi kinh tế mới ở Suối Dầu -
Khánh Hòa khoảng 3 năm, làm đủ thứ nghề từ rẫy ruộng cho đến buôn bán nhỏ để
nuôi con.
Túy
Hồng:
Sau 75 định cư ở Mỹ. Bà tiếp tục viết văn và cộng tác
với các tạp chí cho đến khi qua đời vào ngày 19/7/2020 tại Oregon, Hoa kỳ.
Lệ
Hằng:
Bà rời VN sang Úc định cư 1989. Bà tiếp tục viết và cộng
tác với các tạp chí văn học Việt.
Nguyễn
Thị Thuỵ Vũ:
Riêng bà, là khổ. Sau 75 bà ở lại VN và trải qua những
giai đoạn khó khăn, phải sống lê lết vì nuôi đứa con gái út bị bệnh. Hiện tại,
bà sống ở Lộc ninh - Bình Phước với cuộc sống cũng tạm ổn nhờ sự giúp đỡ của bạn
bè và các tổ chức văn bút.
Còn một số người ở lại VN như Sơn Nam, Võ Hồng, Quách
Tấn, Vũ Hạnh. Có người hội nhập hợp tác với chế độ mới, có người lặng lẽ
"gác bút".
Câu chuyện về số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam
sau 30/4/1975 không chỉ là một câu chuyện văn chương, mà còn là những mảnh ghép
từ nhiều phận đời với đầy đủ bi thương của một giai đoạn lịch sử vào thế kỷ 20,
khi cây bút bị coi là "tội ác".
DYNH ANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét