BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN CÙNG THÂN QUYẾN NĂM MỚI MẬU TUẤT 2018 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

NGÀY XƯA QUẢNG TRỊ - Đinh Hoa Lư

Nguồn: https://ngayxuaquangtri.blogspot.com/2018/01/thanh-xua-quangtri.htmlfbclid=IwAR0X6l92KydAtnCQzywdY3DlBy01kWBB9uz57lAeBgvXAv7Jx37dCfthIp4 


           

Ngược thời gian trở về quá khứ thật xa. Một thời đối với những ai là Người Quảng trị đó là cả một chặng đời xuân sắc biết bao kỷ niệm êm đềm, đẹp như gấm hoa. Nay hình ảnh đó đã là những gì mờ nhạt như khói sương rồi hình ảnh cái thành thỉnh thoảng trở về trong tôi với những gì còn sót lại trong ký ức một ngưòi xa xứ.


       [IMG]
                       Cổng thành Đinh Công Tráng (1969)
                          (Cửa Hữu Thành Cổ Quảng Trị)

       NGÀY XƯA QUẢNG TRỊ

       Tôi còn nhớ có những sáng mù sương Thành Cổ trông chẳng khác một bức tranh xưa trong Hùng Sử Việt hay truyện cổ tích. Cửa Hậu trong làn sương sớm qua trí tưởng tưởng của tuổi thơ - tôi mường tượng trong cổng thành uy nghiêm kia có những vị thiên tướng cùng muôn ngàn tinh binh gươm giáo đầy trời.
Giữa thinh không vắng lặng của buổi sáng sương mù, mặt hồ quanh thành bồng bềnh một màu trắng đục của màn sương trông y những đám mây làm trí tưởng tưởng của tôi xa thêm: Cổng thành trông chẳng khác gì cái cổng "THIÊN ĐÌNH" trong truyện tranh tôi đọc. Đến khi vầng dương lên cao, nắng mai phá tan màn sương đục thì Thành Cổ mới trở về hiện thực.

              
       Xóm tôi ở đối diện với cổng thành gọi tên là Cửa Hậu. Cửa Hậu có tên là Cửa Lao Xá do Pháp xưa kia dùng giam giữ tù chính trị. Sau này Cửa Lao Xá cũng như nguyên tên cũng dùng để giam tù. Cửa Lao Xá vẫn mở cho đến năm 1967 thì bị lấp kín sau khi phía Mặt Trận đánh và giải thoát hơn trăm người tù chính trị. Tôi nhớ cái đêm hôm đó tôi nằm trốn dưới gầm giường run như cầy sấy? Bên ngoài đường Ngự - tức con đường kiệt đâm chạy thẳng tắp về đồng An Tiêm - tiếng chân những người tù được giải thoát chạy rầm rập ngoài đường.Ông Tỉnh Đông cũng được giải thoát. Tờ mờ sáng Ông lại chạy lui ngồi trước hiên nhà cậu tôi tức nơi tôi ở. Ông Đông lúc này bận bộ đồ tù màu đen không biết là ai? cả nhà tôi đều sợ? Sau này mới nghe nói là ông. Giải thoát hơn trăm người tù nhưng phía Mặt Trận cũng bị chết hơn mười người.
       Nhớ về Cửa Hậu, tôi phải kể cái mốc thời gian trước 1967 vì khi này tôi nhớ đến cái cổng thành tôi hay vô chơi. Tụi con nít như tôi ở xóm Cửa Hậu hay vô được vì mấy chú Bảo An gác thành cũng không e ngại gì lũ nhỏ này chú đã quen mặt. Thế là tụi tôi vào được thành cùng với lũ bạn con lính trong thành leo lên Thành Cổ chơi, mới biết bức tường thành dày ơi là dày! Bề dày của nó là đất thịt có chiều rộng có thể cho xe chạy cũng được. Thảo nào đất ngoài thành bị mất đi tạo thành cái hồ to lớn bao quanh.

              

       Bức tường thành như một con đê có con đường nghiêng nghiêng cho bọn tôi leo lên chơi. Ngó ra xóm Hậu, hướng về đồng An Tiêm có bờ tre cong cong mờ nhạt. Bọn tôi khoan khoái biết mấy? Có đụn cát cao ai đổ sát chân thành phía ngoài chúng tôi thi nhau đứng trên thành dám to gan nhảy xuống, lại chạy vào thành leo lên nhảy xuống tiếp. Mấy chú Bảo An gác thành đứng ngó theo chỉ cười mấy chú chẳng la rầy chi.
       Mạ tôi bán cái quán tạp hoá nhỏ ngó vào Cửa Hậu  nên hàng ngày tôi quan sát được những gì trước Cửa Lao Xá (tức là Cửa Hậu) này: Có hai cái chái nhà tạm lợp tôn cho những ngày thăm nuôi tù ngoài con đường Lê văn Duyệt qua cái cầu gạch xưa đi vào cổng Lao Xá.

         
Khuôn mặt tượng đồng Lê Văn Duyệt trong Thượng Công miếu (tức Lăng Ông). Khuôn mặt được chế tác dựa trên chân dung Lê Văn Duyệt trên tiền giấy 100 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa in năm 1966. (wikipedia)
Tả Quân Lê Văn Duyệt là một danh tướng người là khai quốc công thần có tiếng dưới triều Nguyễn...chúng ta là con cháu phải tôn trọng người xưa???

        Mỗi đợt có năm ba người tù được mấy chú lính dẫn ra gặp người nhà. Những giỏ đồ ăn, những miếng lá chuối đựng quà, những mo cơm, những lời nói năng tâm sự. Hình ảnh lưu luyến của người nhà từ dưới làng quê, những miếng cơm mang nặng hơi hám ruộng đồng và những giây phút ngắn ngủi, những người tù chính trị phải chia tay vào lại trong thành để người tù khác ra. Khi cái cổng sắt khép lại, bên trong là một thế giới khác và ngoài này là xóm Cửa Hậu thân thương muôn thuở của chúng tôi cùng những ngày tuổi thơ vui chơi hồn nhiên ăn học. Có những đêm chơi đá lon ngoài ngả ba ngó vô cổng thành, tôi nghe rõ tiếng kẽng đổi gác quanh thành, tôi còn nghe rõ mồn một tiếng con chim cuốc kêu mãi dưới hồ.


                            Lao Xá hay là Cửa Hậu Thành Cổ Quảng Trị     
                                                     (Mũi tên màu đỏ)

       Vào ban ngày cửa thành được mở ra. Có một toán đông người tù được mấy chú lính dẫn ra ra. Họ đi làm “cỏ vê” (corvee) tức là đi làm tạp dịch ngoài tòa tỉnh hay mấy cơ quan công sở nào đó. Xế trưa toán tù đi về; khi về chiếc xe kéo theo sau nhốt mấy con chó vô chủ chạy rong ngoài đường, chúng bị mấy người tù bắt đem vô thành. Thời này chó chạy rong ngoài đường là có lệnh bắt vì thiên hạ sợ chó dại cắn vô cùng. Nhắc đến đây tôi lại nhớ hình ảnh cái thòng lọng bằng kẽm và bàn tay thiện nghệ của một người tù cùng tiếng kêu ăng ẳng của mấy con chó bị bắt; chắc rằng mấy con chó vô phúc sẽ không còn có ngày trở lại !

        [IMG]
              Cổng Lao Xá hay là Cửa Hậu Thành Cổ Quảng Trị 
                         cuối năm 1967 (đã bị đóng lấp)
    
        
                               Cửa Hậu năm 2012

      Hình ảnh đoàn tù đi làm corvee ngày đó làm tôi nhớ đến cái chết của anh Thủ con bác Trợ sau xóm ông Cai Ngữ tức là ông thân của anh Khanh, anh Sỏ, anh Thăng. Khi chú lính dẫn tù về anh Thủ chạy ra gây hấn với chú lính này vì những ngày anh Thủ này ở tù trong Lao xá (tù hình sự) có tư thù với chú lính này. Khi ra tù anh Thủ chờ dịp chú lính này dẫn tù ngang qua xóm mới chạy ra gây hấn. Rủi thay gặp cơn nóng giận lại sẵn mang súng chú lính đuổi theo anh Thủ vào tận trong xóm. Những phát đạn từ khẩu súng thompson cùng hình ảnh anh Thủ nằm thoi thóp, thân hình lực lưỡng chỉ một cái quần đùi, anh chết trên nền nhà bác Lê bá Oa ông thân anh Lê bá Lư. (nhà xóm sau lưng nhà Hà thị bích Hường và nhà cậu tôi). Xóm Hậu chúng tôi mất anh Thủ là mất một giọng ca vọng cổ "rất mùi" chỉ tiếc anh ham chơi mới có kết quả bi thảm đó. Nói lan man qua xóm tôi thì phải kể đến anh Sỏ em anh Khanh và anh của anh Thăng; anh Sỏ vào đại học Huế anh chưa ra sư phạm ngay mà học thêm cao học toán. Nhớ đến anh Sỏ, tôi nhớ đến mặt anh khi nào cũng đỏ gay như uống rượu, cái áo sơ mi trắng khi nào cũng xuề xòa bỏ ngoài, cùng dáng đi nhanh thoăn thoắt. Thời buổi này trai tráng trong thôn ai cũng lên đường tòng quân dù ở phía nào cũng phải tuân hành lệnh chính phủ trên ban. Trường hợp theo đuổi học vấn lên cao như anh Sỏ thì phải là hiếm hoi.
      Mùa khô về, khi hồ Thành chỉ còn xâm sấp nước cùng màu xanh của lục bình là lúc những người tù "nhà phạt" trong thành bị dẫn ra ra tát cá.

      

     Tôi cứ lan man phải trở về chuyện Thành Cổ. Cửa Hậu chỉ mở cho đến 1967, còn Cửa Hữu tức là cổng thành Đinh công Tráng mở cho đến ngày tan nát. Ngoài ra 2 cửa, tức là Cửa Tả ngó ra đường Duy Tân, Cửa Tiền ngó ra đường Lê thái Tổ thì bị đóng từ lâu. Nhắc đến Thành thì phải nhắc đến cái hồ bao quanh thành. Đến mùa nước lên tức là mùa lũ của con sông Thạch Hãn nước tràn vào hồ lênh láng làm khổ những dãy nhà xây sát bờ hồ. Đất hẹp người đông dĩ nhiên hồ Thành cũng bị lấn nhưng chuyện này cũng giúp cá trong hồ sinh sôi nảy nở rất nhiều. Thế là lúc mùa khô về, khi hồ Thành chỉ còn xâm sấp nước cùng màu xanh của lục bình là lúc những người tù "nhà phạt" trong thành bị dẫn ra ra tát cá. Xóm Hậu chúng tôi vui lây vì tiếng ồn ào họ tát nước bắt cá dưới hồ. Cá thật nhiều ! những cái thùng phuy chẳng bao lâu lại đầy ắp cá , chúng đa số là cá tràu (lóc). Từ trên đường người dân xóm Hậu hay cả thôn chúng tôi đứng chờ sẵn. Xế trưa khi cả trăm người tù vào lại trong thành cùng mấy thùng cá và cùng lúc 2 cánh cửa thành khép lại là chúng tôi a nhau xuống hồ. Lúc này tiếng ồn ào huyên náo của dân lại còn gấp mấy lần lúc sáng. Những tốp nhỏ người chia nhau từng lô tát thật cạn nước để mò cá. Có đứa mò thật tài chỉ chút chi là được mấy con tràu to bằng cán rựa. Có đứa giỏi hơn bắt được cả mấy con lươn dài ngùng ngoằn vàng hươm. Tôi sợ nhất mấy con rô hay con hẽn (cá trê) cái ngạnh, cái kỳ của chúng nhọn hoắt làm chảy cả máu tay. Lớp bùn dày của hồ này nó còn tiềm ẩn bao nhiêu con cá chưa bắt được nhưng nó không thoát được những bàn tay mò cá giỏi cùng tính chịu khó. Bà con trong xóm a nhau tới coi con cá tràu to nhất nó bị quăng ngay lên bờ vì nếu để nó vùng vằng lâu sẽ truột khỏi tay vàt rốn thoát dưới bùn.
      Lại thằng Mẹo hắn việc chi không rành, con tràu to nhất là của nó; sau khi quăng con tràu lên bờ nó vọt theo đè cả người lên con cá đang vẫy vùng muốn thoát lại xuống hồ. Nói chung cá và hồ là sở hữu của Thành người dân không có quyền chi, thế nhưng ngày tát cá thu nguồn lợi từ cái hồ trước mặt cửa Lao xá thì quân dân ai cũng có phần chẳng nề hà chi. Mùa khô thực sự đến thì người tù Lao xá lại ra trồng rau muống để có thêm rau cho tù ăn.
      Từ cửa Hậu trong thành ngó về hướng sông sẽ có cái chòi canh cao ngất xây từ thời Pháp nên không ai còn dùng. Cái chòi này từ An tiêm, Nại cửu nhìn lên thành phố là thấy. Ngày xưa khi học lớp nhì tôi theo mấy đứa bạn con lính tráng trong thành vào thành qua cổng cửa Hữu, đứng gần cái chòi 4 cột bằng bê tông này khi nhìn thấy mấy cái thang sắt đã hoen rỉ cái còn cái mất tôi yếu vía đâu dám leo lên . Phía chân cái chòi cao này, sau này là trại gà. Có ngõ trổ ra ra đường Lê văn Duyệt có cái hồ nuôi cá Phi rồi mới leo lên đường. Qua nhà ông Đội Chức có mấy cây đào lựu lâu năm rậm rạp người ta đồn có tinh (tức là ma cái). Dân trong thôn thêu dệt chuyện con ông Đội Chức "điên tàng" vì "lấy tinh", thiên hạ "thêm mắm thêm muối" rằng đêm khuya đi ngang Miếu Âm Hồn sát nhà Ông Đội Chức (hay Miếu Đôi?) còn nghe tiếng ru con nữa mới là rùng rợn! Nói gì thì nói ngay ngả ba Lê văn Duyệt, múi Trần hưng Đạo đối diện Miếu Âm Hồn này có một bãi tha ma ông bà kể lại Tây bắn tù chính trị chôn lấp ở đây (có người viết khác ví dụ, theo bác Hoàng long Hải tức nhà văn Tuệ Chương thì bãi tha ma này là nơi chôn những hài nhi sa sót từ nhà thương Tây gần đó - sau này là trường Nữ Tiểu Học Quảng trị - đem ra chôn tại đây?). Sau này bãi tha ma thành những nấm mồ vô chủ theo ngày tháng đất đá mòn dần không ai hương khói. Ngoại trừ mấy ngôi mả bằng đá có người nói là mả Nhật thì không bị thời gian phá hoại thôi. Tôi còn nhớ cảm giác khi nào cũng "ơn ớn" mỗi lúc đi học trường Nam ngang qua Miếu Đôi [theo bác Hoàng long Hải thì Miếu Đôi nằm sát với bờ sông Thạch Hãn gần tới chùa Tỉnh Hội còn đây là miếu âm hồn ]và bải tha ma này (cũng theo bác Hoàng Long Hải thì đây là nơi chôn cất những người chết từ nhà thuơng tỉnh gần đó, nhà thuơng này sau này làm trường Nữ tiểu học QT- ngó qua Trại Tuyển Mộ)
      Miếu Âm Hồn sát nhà Ông Đội Chức cạnh "xóm Heo", tên xóm này người dân trong thôn tự đặt với nhau lâu ngày quen miệng thôi, sau này cũng đở sợ Miếu Đôi vì ngày rằm nhóm "THIÊN TIÊN THÁNH GIÁO" của ông Tư mô đó trên phố (nghe là bồ của bà chủ tiệm Phương Mai cạnh Mỹ Phát) năng về làm lễ trong miếu này.

           
       Con lân đúc nổi trên tấm bình phong trước miễu Âm Hồn 

      Đi học ngang qua tôi có ghé vô miếu coi. Ông Tư lúc nào cũng giả trang làm "BÀ" cùng các bà kia phấn son lòe loẹt, tiếng 'cóc xèng xèng", tiếng ông Tư lên đồng, cùng khói hương nghi ngút làm tôi hết cả sợ khi nhìn con lân đúc nổi trên tấm bình phong trước miễu - hai con mắt "ma quái" cuả nó như đang lom lom nhìn tôi. Bà ngoại tôi có kể rằng mạ tôi ngày xưa hồi nhỏ đi theo ngoại tôi. Khi mạ tôi đi sau chợt linh tính sao nhìn vô trong miếu thấy một khuôn mặt như mặt mèo, hai con mắt xanh lè. Mạ tôi sợ "cứng cả người" á khẩu không nói được?. Về nhà bà tôi vuốt tim xoa dầu "hu" ba hồn bảy vía" rất lâu mạ tôi mới hoàn hồn. Do câu chuyện kể lại nên sau này lúc nào đi học ngang Miếu tôi cũng sợ. Nhìn mấy chùm đào lựu xum xuê trái trên mấy cành cao che phủ nóc Miếu tôi chẳng "dám thèm" cúi đầu đi thẳng. Chỉ khi qua nhà ông đại úy Đối -khoảng múi đường Trần Hưng Đạo ngó qua là Trại Quân Cụ - có mấy trái đào tiên trăng trắng (trong nam gọi mận) ló ra ngoài bức tường rào tôi mới có gan kiếm vài trái thôi! Nhà ông Đại Uý Đối thuộc loại nhà "kín cổng cao tường" có mấy chị đẹp lắm nhưng ít khi ra ngoài. Phía sau là nhà ông thân Phi Hồng. Phi Hồng là phu nhân của thi sĩ Phan Khâm hiện đang ở Maryland Hoa Kỳ.

     
                          Đoàn Hoa Mai (hình tượng trưng)

     Tiếng là "bốn ngả đường thành", nhưng theo ý tôi con đường Lê văn Duyệt là vui nhất. Trước tiên vì nó có sinh hoạt của người tù ra vô hàng ngày qua cổng Lao Xá , có lính tráng ra mua bán, và phải nói đến đám HÁT BỘ tên là HOA MAI của ông ĐƯƠNG "đóng quân lâu dài" trước mặt nhà ông Đội Chức nơi cái bãi đất làm sân bóng trong thôn. Ông Đương và đoàn Hoa Mai của ông rất nghèo, nghèo đến nỗi cả đoàn không còn tiền để về lại quê huơng xứ Quảng của ông. Lúc đầu người dân thôn tôi tức là thôn Đệ Tứ (đường Lê văn Duyệt) còn tiền coi dần dà hết tiền khách vắng dần. Hồi đó tôi cũng mê hát bộ đoàn Hoa Mai này lắm vì suy cho cùng cón có cái thú nào hơn? Rất lâu mới có một đoàn chiếu phim công cộng hay rất lầu mới có đoàn cải lương trong nam ra đây, nhưng tôi làm gì mua nỗi cái vé đắt tiền của các đoàn cải lương có tiếng như THủ Đô hay Hương Mùa Thu, Thanh Minh -Thanh Nga dạo đó !? Ông bà Đương đóng đủ vai: từ Phật THÍCH CA, Quan Âm thị Kính, cho đến Quan Công, Trương Phi ông cũng đóng "tuốt" ! Tôi nhớ về tiếng trống cầm chầu của mấy cụ già cùng mấy dồng bạc quăng lên sân khấu thuởng cho diễn viên, bóng lom khom mấy đửa nhỏ ra lượm tiền. Đoàn Hoa Mai ở lâu quá, tài tử "đẻ thêm con" , túi tiền dân thôn tôi lâu ngày cũng cạn và sự tò mò háo hức cũng tan đi khi nhìn thấy bà bầu tức vợ ông Đương cùng những bà vợ mấy ông kép khác ngày ngày ra chợ không còn "hình dáng mỹ miều" như lúc đóng tuồng mà là những bà đào về chiều già nua đến thảm thiết. Những đêm mưa vắng khách tiếng ông Đương van nài "xin quý vị coi giúp cho đoàn tôi vì mùa đông mưa gió tội nghiệp!!!" cái buồn ảo não thê lương của một đoàn hát "về chiều bị mắc kẹt" lại một xóm nghèo ngày xưa đó là một dấu ấn khó quên cho cuộc đời nghệ sĩ, những cảm nhận đáng thương cho những ai làm văn hóa mà cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, đáng lẽ họ phải được nâng đỡ và bảo trợ cho những công việc bảo tồn giềng mối đạo đức phong hóa cho dân tộc.
      Thời gian trôi mau, nói như trong truyện xưa Hán Sở Tranh Hùng mà thân phụ tôi lúc sinh tiền hay ngâm:

Sương gió phôi pha bóng nguyệt tà
Vận thời chưa gặp khó bôn ba
Nghèo hèn phận bạc đời dang dở
Con Tạo trêu ngươi lắm thế a ?

      Đúng sao cái câu "Sương gió phôi pha bóng nguyệt tà" mà Hàn Tín từng than cho thời thế! nay ta so lại với bao nhiêu bận 'bóng nguyệt tà' trên ngôi Thành Cổ ra sao? Bức tường thành rêu phong phủ kín nay di tích Quảng Trị chỉ còn đọng lại trong ký ức con người?
      Khi kể lại tôi hi vọng các thế hệ đời sau sẽ có nhiều trí tưởng tượng phong phú hơn. Mong sao các cháu sẽ hình dung ra một THÀNH CỔ uy nghi từng mang tên danh tướng Đinh công Tráng sẽ hiển hiện cùng thanh âm ''vang vọng tiếng xưa ngậm ngùi"

                                                  CALI, ngày 6 tháng 11 năm 2011
                                                                   Đinh Hoa Lư

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


POST HÌNH HOẶC VIDEO CLIP VÀO Ô COMMENT :

Các bạn chỉ việc copy link hình hoặc link video clip dán trực tiếp vào ô comment mà không cần dùng thẻ