BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI GIÁP THÌN 2024 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

NGÚT NGÀN GIỮA ĐẠI DƯƠNG BÁT NGÁT - Tâm Nhiên


      
                    Thầy Tuệ Sĩ và cư sĩ Tâm Nhiên


           NGÚT NGÀN GIỮA ĐẠI DƯƠNG BÁT NGÁT
                                                                          Tâm Nhiên

“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ mà tôi cứ đọc đi đọc lại mãi trên những chuyến phiêu bạt, giang hồ khắp đó đây. Ngày đi, tháng đi, năm đi và đời mình cũng đang chuyển dịch đi qua. Đi trên nhịp bước sương lồng sông núi lặng: “Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.”* Phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương, theo cách điệu tiêu dao du chơi giữa vô thường:

“Bước đi nghe cỏ động
Đi mãi thành tâm không
Hun hút rừng như mộng
Tồn sinh rụng cánh hồng”**

Bồng phiêu tựa cánh bèo trôi lênh đênh giữa muôn trùng cuộc lữ, như Thiện Tài lang thang qua 52 cảnh giới, như Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng chập chùng trong quá khứ tuyệt mù xa. Từ đó, nghe ra biết bao niềm giao cảm nên xin hòa âm trên cung bậc thi ca, đồng thanh tương ứng:

Những phương trời viễn mộng đi
Thi ca tư tưởng bước kỳ ảo qua
Đọa đày một thuở ta bà
Nỗi đau rực cháy thấy ra tột cùng

Ôi ! Giấc mơ Trường Sơn rung
Rúng hồn tim máu chợt bùng vỡ mơ
Kinh thiên động địa sững sờ
Đâu chân diện mục của Thơ với Thiền?

Mặc như lôi ngồi tịch nhiên
Nghe ban sơ vọng ngân huyền diệu âm
Những điệp khúc cho dương cầm
Từ vô tận ý vang thâm thiết niềm

Niềm chi mà thâm thiết vang âm, ý gì mà từ vô tận ngân dội về? Để cho: “Nơi đây, sa mạc cứ vẫn thiên thu cô tịch trong cơn gió bức bách của hư vô. Lẽ sống và lẽ chết cứ mãi bập bềnh trên hư ảo. Tâm hồn miệt mài nóng cháy nhưng không cháy tan hết những giấc mộng hãi hùng của hư vô và hủy diệt.” Tuệ Sỹ đã nói như thế trong Vô Môn Quan giữa một chiều xa xưa bữa nọ, mãi đến bây giờ, vẫn còn nghe đồng vọng lại, khi mình đang lang thang với Thầy, lội suối trèo non, leo lên trên tuyệt đỉnh cô phong, ngút ngàn ngoài ven trời vạn dặm giữa trùng khơi, hoang đảo sóng rạt rào:

Ngút tận mù khơi trời hoang đảo
Trèo lên tuyệt đỉnh núi lặng im
Im lặng lắng nghe mây ngàn hát
Vang vọng nghìn năm biết bao niềm

Nghìn năm sóng vỗ trào vô ngã
Rạt rào trên biển lớn mênh mông
Tứ đại phù du bèo bọt nổi
Sóng tan thành nước chảy theo dòng

Sóng nước tuy hai mà vốn một
Nên sinh hay diệt vắng lặng rồi
Cũng ngay ngũ uẩn thân mình đó
Phật tính nhiệm huyền hiện hữu thôi

Trùng trùng duyên khởi muôn vạn pháp
Đủ duyên thì hiện hết thì tan
Không có cái chi là tự ngã
Hòa chung vũ trụ trỗi cung đàn

Cung đàn vang dậy trỗi khúc bồng tênh, lênh láng trên lớp lớp sóng trào, ngoài viễn xứ xa xăm cùng hòa âm theo Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm du dương, thánh thót. Một tập thơ mà Tuệ Sỹ hát ca quá mộng trong bóng tối u huyền, thoảng ngát trời sương trăng tịnh trầm thanh vắng lặng:

“Ta nhận chìm thời gian trong khóe mắt
Rồi thời gian ửng đỏ đêm thiêng
Đêm chợt thành mùa đông huyễn hoặc
Cánh chim bạt ngàn từ quãng Vô biên”***

Vô biên vô lượng tuy hoằng viễn thiên hà mà thực ra vẫn gần gũi quanh đây, ngay nơi đáy lòng bi mẫn, ngân dài khúc điệu vô ngôn. Vô ngôn một cách thâm thúy, diệu kỳ trong ý vị sâu xa. Vì lẽ: “Người thi sỹ xuất chúng, xuất thần, hay có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay là chẳng nghe.”****

Bùi Giáng nhận xét về Tuệ Sỹ như thế và thi nhân cũng lai rai hồi đáp lại: “Bởi vì, cách điệu của Thi ca vốn dĩ phiêu hốt, khơi vơi, lãng đãng, nên bờ biếc bích ngạn chiêu hoa như một nơi chốn thong dong thánh thót. Thảm kịch khốn cùng dù có đổ ào lên Thi ca đến mấy đi nữa, Thi ca vẫn như điềm nhiên, ngao du theo ngày tháng, trong ngày tháng ngao du.”** Ngao du trên phong vận tài hoa, nhập cuộc cùng buồn vui, mộng huyễn ta bà:

“Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói
Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao”***

“Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao” hay “ Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao” là điệp khúc Đại từ bi mà tôi nghe được từ cái nhìn sâu thẳm của Tuệ Sỹ, khi ngồi trên đỉnh núi ngàn cao, nhìn xuống chập chùng trùng khơi biển nước:

Ra vùng biển lớn trùng dương
Lướt trên bão tố vô thường cuồng phong
Rỗng rang tận đáy sâu lòng
Vất đi hết những ngày long đong nào

Trèo lên chót vót đỉnh cao
Ồ mây trắng lượn bay trào cuộn dâng
Quá cùng tuyệt hảo vô ngần
Hoát nhiên bừng ngộ lẽ Chân tánh này

Ngó nhìn xuống cõi đời say
Dưới kia nhỏ bé đang dày xéo nhau
Lô nhô lúc nhúc loạn nhầu
Cứ tranh giành giật cứ xâu xé hoài

Chạnh niềm thương kiếp trần ai
Mãi còn hỗn độn đêm dài vô minh
Sao chưa thức dậy vươn mình
Ca bài giải thoát điêu linh phận người?

Phận người điêu linh, trầm thống không phải mới ngày hôm nay mà xảy ra từ vô lượng kiếp rồi. “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển đại dương.” Đức Phật đã từng thấy như vậy. Kể làm sao cho hết nỗi ngậm ngùi, xiết bao khổ lụy. Khi mình nhận thấy sự thống khổ, đảo điên vô cùng tận thì mới phát khởi Đại bi tâm hay Bồ đề tâm : “Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng, không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa, áp bức mà còn là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ…”***** Tuệ Sỹ khơi mở cho chúng ta một sinh lộ hướng thượng, vượt lên trên thân phận trầm kha, đắm chìm trong mịt mùng u tối, rồi lặng lẽ đi về, lắng nghe giữa hun hút thẳm sâu lòng:

“Ta về một cõi tâm không
Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
Còn yêu một thuở đi hoang
Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya”**

Giữa khuya trầm giá lạnh mù sương, khúc cung cầm tâm cảm lại hòa âm theo từng bước chân của người thi sỹ dị thường: “Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu. Bản tình ca vô tận của Đông phương.”* Từ bản tình ca đó, tôi nghe rưng rưng dư vang kéo dài bất tận qua khắp rừng cao lũng thấp, trên mặt đất hư vô, khô cằn sa mạc, vang dội xuống tuyệt cùng hố thẳm tư tưởng, rồi vút bay theo cánh Đại bàng ra biển cả ngàn trùng, tung lượn trên sóng vỗ Tịch Không.

Không Tịch minh nhiên giữa biển ngàn hoang vắng, tịch liêu, chìm sâu trong nín thinh, tịnh khẩu. Bàng bạc dưới vầng trăng thiên thu, lắng nghe những lời vô thanh văng vẳng bên đồi, tôi mường tượng, bằng con mắt Hoa Nghiêm, Thầy nhìn thấy toàn thể cuộc đời trùng trùng duyên khởi, đầy ắp giọt lệ và nụ cười trộn lẫn viên dung, rúng động cả hồn vạn cổ, nên tâm từ rải xuống khắp thập loại chúng sinh:

Hải đảo hoang liêu ngồi cô tịch
Nắng mưa lộng gió thổi đồi non
Công án tử sinh bừng chiếu diệu
Giữa khuya tuệ giác sáng rực hồn

Ngời hiện thiên thu vầng trăng tỏa
Mông mênh trên biển núi lặng trầm
Con mắt Hoa Nghiêm im lặng thấy
Toàn thể cuộc đời giữa diệu tâm

Từ ái hoài rung nguồn xúc cảm
Khi chúng sinh đầy nước mắt rơi
Thiên lý độc hành từng chứng kiến
Máu lệ thế gian thấm tận lời

Lời thơ bi tráng còn âm vọng
Trong cõi tồn sinh khiến giật mình
Vô thanh mà động hồn vạn cổ
Thương kiếp người ta quá điêu linh

Một mình một bóng vào ra giữa thanh âm huyền ngôn, mật ngữ, nghe u hiển tiếng thơ bi tráng từ đáy thăm thẳm ngàn khơi vang vọng lên trên cung bậc Đại bi tâm trầm hậu. Đâu là chân diện mục của Thơ và Thiền? Đâu là vầng trăng Không Tịch chiếu nguyên sơ? Không biết nữa, chỉ biết rõ ràng: “Hương vị của Chánh pháp vẫn là hương vị cô liêu của sự sống.”** Hương vị cô liêu thoảng ngát chung quanh gành đá tảng, trên đồi cao Vô Trú Am, nằm cạnh một mé triền đồi nhô ra phía biển mênh mông. Tịnh yên, miên mật để cho thần trí nhập cảnh giới Thiền:

“Ngã cư không xứ nhất trùng thiên
Ngã giới hư vô chân cá thiền
Vô vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa quan thiên nữ tán hoa miên”

(Ta ở tầng trời thứ nhất trong cõi không
Cảnh giới của ta thật là cõi thiền
Không vật không người không lắm chuyện
Ngồi xem thiên nữ rải thiên hoa)**

Thiền là ngộ. Ngộ là giải thoát. Mình chưa giải thoát, chưa ngộ thì nên im lặng, dù có nói thao thao bất tuyệt về Thiền cũng chỉ hý luận mà thôi. Cõi Thiền bất khả thuyết, bất khả tư nghì, Thiền sư cứ nhập định, đi sâu vào cảnh giới diệu tuyệt huyền hòa:
 
Một mình tịnh khẩu sâu xa
Trên đồi cô tịch căn nhà pháp không
Dựa lưng vào núi mây lồng
Trùng dương trước mặt ngắm mông mênh trời

Mỗi ngày một bữa cơm thôi
Đủ cho điệu thở nhẹ vời rỗng rang
Hoang vu hiu quạnh thanh nhàn
Trang kinh vô tự thành trang thơ này

Viết lên dòng nước biển mây
Lời chi vi diệu hiển bày nhất nguyên
Sáng bừng thực tại hiện tiền
Trực tâm thầm nhận ngồi yên lặng cười

“Cười với nắng một ngày sao chóng thế”* để nghe ra giây phút dội miên trường. Trước khi Thầy nhập thất 3 tháng trời, tôi với vài người bạn thân thiết cùng Thầy leo lên núi Ông Rồng, rồi núi Ma Thiên Lãnh dạo chơi. Với bàn chân nhanh nhẹn, khinh an, đỉnh núi rừng cao chất ngất, thoáng chốc cũng đã được chinh phục, chạm bước chân đến nơi liền.

Ồ ! Bỗng nhiên hiện ra một cảnh giới: “Lô Sơn hùng vĩ, phiêu bồng nhưng u ẩn. Lòng núi giấu kín những tâm sự nghìn năm không nói, lòng núi ủ kín những cuộc đời trầm mặc, những thân thể khô gầy như hạc như trúc, những tâm hồn nguội lạnh như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm cho gió ngàn gào thét, cho mây trời vần vũ và những dòng thác từ trên tuyệt đỉnh cao mù đổ ào xuống. Lô Sơn đồng vọng một cõi thi ca bát ngát.”****** Đứng trên đỉnh Ông Rồng hay đỉnh Lô Sơn đó, có thể nhìn xuyên suốt mười phương, thấy toàn cảnh ba nghìn thế giới thấp thoáng trong sương khói bồng bềnh:

Lên Ông Rồng hay lên Lô Sơn đỉnh
Núi rừng ơi ! Chạm bóng mây trời
Cao xanh lồng lộng bừng nhật nguyệt
Mắt tuệ ngời tỏa chiếu nghìn nơi

Trên chót vót ngàn cao nhìn xuống
Đẹp vô lường hương sắc thanh lương
Ba nghìn thế giới đều hiện rõ
Giữa lòng không mà tuyệt mỹ dị thường

Hương Chánh pháp cảm từng mạch máu
Từng tế bào vi tế tỏa ra
Vô ngần thần diệu thầm nhận biết
Tuyệt hồn nghe và thấy chan hòa

Hương vị đó cô liêu cuộc sống
Thưởng thức từ núi biển phiêu nhiên
Sớm nay hít thở đầy buồng phổi
Đồi sơ nguyên bàng bạc khí u huyền

U huyền thanh khí hòa chan giữa thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt hồn nghe biển rừng mênh mông đồng vọng tiếng gầm của Không Lộ thiền sư, từ đèo truông heo hút, muôn thuở xa xôi vọng về. Rồi bồi hồi quay mặt lại, thấy Thầy đang đứng trên đỉnh núi, viết lên bầu trời những vần thơ biếu tặng cho mây trắng, trùng dương, sương ngàn, nắng gió:

Xưa kia có lão thiền sư nọ
Phiêu hốt một ngày lên núi chơi
Tuyệt đỉnh cô phong gầm một tiếng
Lạnh cả không gian chấn động trời

Còn nay có bậc trượng phu ấy
Cũng bỏ lên rừng ngắm đồi hoang
Lấy mây khói quyện làm bút viết
Bài thơ biếu tặng nắng sương ngàn

Biếu tự do cho cây lá cỏ
Cho suối nguồn trôi tự tại kia
Tặng hết có không tam giới mộng
Không còn chi giữ chẳng chi lìa

Xuống núi lại qua cùng thế sự
Hòa cát bụi đời với tỉnh mê
Huyễn hóa mà thôi cười thương hết
Nên bước tùy duyên rất cận kề

Kề cận, thân mật, hoan hỷ, tùy duyên theo nhịp thở khơi vơi với từng ngọn cỏ, lá cây, với mỗi viên sỏi, cục đá lăn lóc dọc đường. Bước đi kỳ cùng cuộc lữ, Tuệ Sỹ thi nhân đã từng mở cuộc Thiên lý độc hành bằng hai bàn chân đi bộ và đi bộ như thi sỹ Rimbaud, dãi nắng dầm mưa suốt gần cả năm trời, băng qua khắp đỉnh đèo heo hút gió, bạt ngàn cát bụi, ruổi rong trên cao nguyên, rừng hoang rú rậm Lâm Đồng:

“Trên đỉnh đèo cao bát ngát trông
Rừng mây xanh ngất tạnh vô cùng
Từ ta trải áo đường mưa bụi
Tưởng thấy tiền thân trên bến không”**

Cuộc thiên lý độc hành ca ấy đang dừng chân ngoài hải đảo Lại Sơn, ngút ngàn sóng biển Kiên Giang. Thanh thản nụ cười mây trắng, an nhiên ánh mắt mưa xanh. Cơn mưa pháp vũ tuôn tràn xuống cõi bụi phù trần, rồi đọng lại thành những tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật, Thắng Man Giảng Luận, Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng, Tuệ Sỹ Văn Tuyển, Triết Học Về Tánh Không, Luận Thành Duy Thức, Du Già Bồ Tát Giới… gội mát vô lường, khơi mở cho đời xiết bao thông lộ yêu thương. Thưởng thức nguồn xanh thanh khí, tiêu dung năng lượng thanh cao, bổ dưỡng tâm hồn. Còn gì thi vị hơn, khi được ngồi đối diện, uống trà với Thầy trong liêu vắng bên ghềnh biển, như uống từng giọt trăng huyền nguyên trinh, tịch lặng:

Chén trà chứa cả đại dương
Ôi tình Thầy đó vô lường vô biên
Nâng ly sạch hết ưu phiền
Tan nghìn u tối bừng nguyên sơ này

Hương trà thoảng ngát đồi cây
Ấm lòng tỏa quyện hiển bày diệu tâm
Lời thơ trên mắt lặng trầm
Thầm nghe trực tiếp niềm thâm cảm nào

Tưởng chừng như lạc chiêm bao
Bàng hoàng ánh nguyệt chiếu vào sâu xa
Mới hay trong một chung trà
Hòa tâm diệu pháp reo ca giữa hồn

Chén trà Vi diệu tâm pháp từ bàn tay gầy của Thầy rót xuống giữa đêm trăng rằm hay sớm tinh sương kia bỗng hóa thành thơ, nhạc, rộn ràng qua từng nét chữ linh động, tài hoa:

“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vút tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba”*

Cũng rộn ràng như vậy, cây lá, hoa vàng, cát sỏi ven triền dốc đồi đá tảng hoang vu, nghiêng xuống biển trời hải đảo, vô cùng hân hoan, khi Thầy bất ngờ vân du đến chơi và dừng gót phiêu bồng lại trên đồi cao gió lộng, ngồi tịch nhiên bất động suốt ba tháng trời giữa đại hải bao la…

Rồi ba tháng an cư, nhập thất cũng vèo qua chớp thoáng. Sáng nay, Thầy ra thất, thần thái an lạc, sáng ngời với nụ cười thanh tịnh, thong dong trong ánh nắng bình minh. Rồi uống trà Tào Khê, rồi ngắm trăng Lăng Già và leo lên tận đỉnh núi Đề Thơ cao chớn chở, ngồi thưởng thức những cụm mây trời vạn cổ bay bềnh bồng trong gió nắng thiên nhiên.

Hiển lộ bày ra cái chi vi diệu trên từng ngón tay gầy sáng tạo, trên ánh mắt thần lực rực ngời, trong giọng nói tiếng cười thân thiện, truyền cảm, tự nhiên gây sự chú tâm. Chú tâm mới nghe ra trong tiếng cười, giọng nói kia, bỗng dội rền lên một tiếng gầm sấm sét:

Lên đỉnh Đề Thơ nhìn mây trắng
Lặng ngát đồi sương khói dị thường
Bỗng nghe tiếng hét gầm tịch mịch
Dậy sấm sét rền khắp muôn phương

Vang vọng truông ngàn khe thung lũng
Bừng lên sinh khí hạo nhiên tràn
Tiếng sư tử rống làm rúng động
Khiếp vía kinh hồn cáo chồn hoang

Tháo chốt nhổ đinh rời tù ngục
Mở dây ràng buộc trói cột mình
Bước tiêu dao dạo vô sở trú
Đùa chơi hý lộng với tử sinh

Sinh tử có không như huyễn mộng
Sống chơi chết cũng vậy chơi thôi
Chơi không dính mắc vào đâu hết
Nên tự do đi cảm hóa đời

Tự do, tự tại, vô quái ngại là phong thái của Thiền sư đi về mặt đất, trần gian này. Chỉ cần ngồi thư thả, lắng nghe Thiền sư nói thôi là cũng đủ hiểu ra lẽ thật của bao nghĩa đời, lý đạo cao siêu… Đạo đời song hành, tương ứng trên cung bậc Bất nhị, tân kỳ hy hữu theo nhịp bước vô úy, đại hoan hỷ rong chơi. Chơi trong cuộc lữ mấy màu thi ca, xanh rất xanh trên ánh mắt thẩm thấu, sâu thẳm suốt dung hòa. Một đôi mắt lặng trầm, thẳm sâu hun hút mà thần quang sáng rực tỏa chiếu ngời: “Đôi mắt Thầy lúc nào cũng sáng rực. Sáng rực được bên ngoài vì đã sáng rực bên trong, đã sáng rực bên trong vì đã sáng rực không ở trong cũng chẳng ở ngoài. Rực sáng như ngàn mặt trời…Tôi gọi Thầy Tuệ Sỹ là Long Tượng, một bậc Đại sỹ.”

Phạm Công Thiện đã hùng hồn tuyên bố như thế, khi phát biểu trong buổi giới thiệu tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật của Thầy bên Hoa Kỳ và tôi cũng thấy như vậy, nên tiếp tục mần thơ, kính tặng Đại Thiền Sư Thi Sỹ:

Như Long Tượng mắt mở trừng sáng rực
Một hôm gầm sấm dậy khắp nhân gian
Làm chấn động cả sơn hà đại địa
Rền ngân vang tận rú thẳm non ngàn

Đôi mắt ấy cháy ngời xanh ánh lửa
Thiêu rụi tàn ngàn bóng tối u minh
Vô lượng quang sáng bừng lên trí tuệ
Đại bi tâm hàm dung chứa bao tình

Đôi mắt đó trầm sâu màu đáy biển
Hòa chan nhau máu lệ nỗi đau đời
Từ nhãn thị chúng sinh đầy thương cảm
Mà đọa đày trong cuộc lữ chao ơi !

Ôi đôi mắt lặng nhìn xuyên tam thế
Cõi tồn lưu huyễn mộng khói sương lồng
Lòng trăng hiện giữa đêm dài sinh tử
Thõng tay vào phố chợ bước dung thông

                                                                             Tâm Nhiên
                                                                  (Vô Trú Am 28. 8. 2018)

Chú thích:

* Giấc Mơ Trường Sơn. Thơ Tuệ Sỹ. An Tiêm xuất bản, Paris 2002
** Tuệ Sỹ Văn Tuyển (tập III). Hạnh Viên sưu tập. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2015
*** Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm. Thơ Tuệ Sỹ. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2009
**** Đi Vào Cõi Thơ. Bùi Giáng. Ca Dao xuất bản, Sài Gòn 1972
***** Thắng Man Giảng Luận. Tuệ Sỹ. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2012
****** Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng. Văn Tuệ Sỹ. Ca Dao xuất bản, Sài Gòn 1973

Không có nhận xét nào: