BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

TIẾNG CHAM CỦA BẠN: CHĂM HAY CHÀM, HAY...? – Bài viết của Inra Sara


Tác giả Inra Sara
 
Các bạn lưu ý: Đây là chủ đề nghiên cứu khoa học tôi đề cập từ lâu, chủ yếu cung cấp cho người đọc dữ liệu cần thiết để đối chiếu, hiểu biết. Rất mong không nên còm mang tính cực đoạn, phân biệt đối xử. Karun!

Từ "Chăm" chính thức được Nhà nước quy định gọi tên dân tộc Cham từ năm 1979. Từ quần chúng đến nhà nghiên cứu, từ nghệ sĩ cho đến giới khoa bảng đều sử dụng tên gọi này trong sinh hoạt, bài viết, thơ văn hay công trình khoa học của mình. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người dùng từ “Chàm”. Bởi hiện tại từ “Chàm” vẫn còn hiện hữu ở rất nhiều địa danh, tên gọi, danh từ riêng. Vân vân… Không hiếm người dùng nó. Rồi cũng không ít người cho như thế là không phải phép, nặng hơn - miệt thị dân tộc này.

TÂY DU KÝ THÓA MẠ CHU NGUYÊN CHƯƠNG NHƯ THẾ NÀO? - Bài viết của Lại Nhật Quang



Độc giả khi tìm hiểu về đời sống cá nhân của Ngô Thừa Ân sẽ thấy không khó hiểu khi mà nhìn thấy trong Tây Du Ký đâu đâu cũng là những mật ngữ giễu nhại chế độ thống trị của nhà Minh đương thời, và đương nhiên không thể thiếu hoàng đế khai quốc nhà Minh - Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương
Hãy cùng xem những mật ngữ nào trong Tây Du Ký công khai thoá mạ vị hoàng đế này
 
1. Trấn Nguyên Đại Tiên
 
Là ông chủ sở hữu cây nhân sâm ở Ngũ Trang Quán - tác dụng của cây nhân sâm này thế nào thì anh em đọc truyện xem phim đều đã rõ, tôi không nhắc lại
Trấn Nguyên Đại Tiên còn tục gọi là Trấn Nguyên Tử - nghĩa là trấn áp giặc Nguyên, mà người đuổi cổ nhà Nguyên về thảo nguyên Mông Cổ là Chu Nguyên Chương
Trấn Nguyên Tử mang tiếng là ông tổ dòng Địa Tiên nhưng hành xử thì nhỏ mọn, tiểu nhân. Trọng nhau thì gọi là "cố nhân", khinh nhau thì thành tù nhân, bốn thầy trò Đường Tăng bị lão dùng đủ thứ cực hình như thả vạc dầu, lấy roi đồng quất toác da nát thịt, thế nhưng khi Ngộ Không ngỏ ý đi tìm thuốc chữa cây cho lão thì lão lại nói : Nếu ngươi cứu được cây nhân sâm của ta, ta bỏ qua mọi chuyện và kết nghĩa anh em. Ông vừa mới dùng hình với người ta xong phút sau đã muốn kết nghĩa anh em, con người gì lật mặt nhanh hơn bánh tráng
Đây là chi tiết ám chỉ thói bạc bẽo, vong ơn phụ nghĩa của Chu Nguyên Chương với các tướng lĩnh của mình, khi hoạn nạn thì trọng dụng, khi an hưởng thái bình thì đồ sát hết

THƠ THÁNG BA CỦA ÁI NHÂN


   

Nhà thơ ÁI NHÂN
Tên thật: Bùi Cao Thế
Hội viên Hội VHNT – Hưng yên
Hội viên Hội nhà văn Hà nội
Đã in riêng 12 tập thơ tình tại NXB Hội NV
ĐC: 139 Ngõ 399 đường Ngọc lâm – Long biên – HN
ĐT: 0984470914
TK: 10524096395016 Tecombank
 
 
Lời Tháng Ba
 
Đầu làng hoa gạo bung hoa
Đỏ nhòe nước mắt phôi pha nạ dòng
Bến sông hoa cải trổ ngồng
Cánh cò đói gió, quặn lòng nhớ mong
 
Chập chờn khúc khuỷu long đong
Mười hai bến nước đâu dòng em mơ
Ai người chuốt gió buộc thơ
Buông câu thương nhớ vu vơ mà cười
 
Hoa như đuốc thắp đỏ trời
Cháy lên khao khát những lời tháng ba
Lập lòe đom đóm bay ra
Tương tư vô định… kiêu sa mơ màng

 
Hồn Làng
 
Sù sì đội nắng cõng mưa
Rêu phong trầm mặc ngàn xưa hồn làng
Lúa thơm từ cánh đồng vàng
Hoa rưng rức gọi, mơ màng bóng quê
 
Người còn đợi bến sông mê
Người đi biền biệt sơn khê phương nào
Tháng ba nhớ đến cồn cào
Đầu làng sáo sậu chào mào vẫy hoa
 
Bao mùa người đã đi xa
Nhớ không hoa gạo làng ta vẫn chờ
Ngược hồn về giữa giấc mơ
Nhặt bông gạo đỏ ấu thơ… thắp lòng
 
 
Nhớ Tháng Ba
 
Nắng vàng lên lối tháng ba
Hoa xoan rắc tím la đà ngõ xuân
Thương thầm từ độ thanh tân
Lời không dám ngỏ phù vân mộng tình
 
Bão giông tận đáy tim mình
Đôi khi chợt thức bất bình gió mưa
Người giờ còn nhớ xuân xưa
Cái đêm tan hội ta đưa nhau về?
 
Bến mê mưa gió dầm dề
Chênh chao giấc điệp bộn bề nhớ thương
 
 
Hoài Niệm Hoa Ban
 
Con đường cũ có còn hoa ban nở?
Tháng ba ơi kỷ niệm mãi qua rồi
Thao thức nhớ thuở mong nhau diệu vợi
Chợt bồi hồi tim loạn nhịp rưng rưng
 
Như có tiếng “Vừng ơi ra mở cửa”
Lời yêu thương anh chân thật dịu dàng
Hoa ban trắng đem cài lên mái tóc
Lòng bâng khuâng em bật khóc thương mình
 
Anh khờ khạo để tình ta dang dở
Cửa tim em chưa mở lại lần nào
Đêm thảng thốt mèo hoang gào gọi bạn
Đau quặn lòng thương cánh nhạn cô đơn
 
Đêm trống vắng biết tìm ai hờn dỗi
Tháng năm trôi thấm thoắt quá nửa đời
Thương nhớ lắm, bên trời anh có biết
Tháng ba về da diết nhớ… hoa ban?
 
                                         ÁI NHÂN

XÓM LÀNG – Thơ Lê Kim Thượng


 
 

Xóm Làng
 
1.
Người về… đi giữa hàng cây
Dặm đường gió bụi nhuộm đầy cô liêu
Người về mái ấm nhà yêu
Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi mong…
Thẹn thùng cơn gió tàn Đông
Tiếng chim Chiền Chiện trên đồng hót vang
Mùa về êm ấm xóm làng
Đào hồng chúm chím, mai vàng chờ xuân
Rì rào sóng lúa vang ngân
Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa vàng…
Sợi mây cõng vạt nắng tan
Gió qua vườn vắng muộn màng chơi vơi
Nắng vàng còn chút đem phơi
Giọt chuông lắng đọng rơi rơi lưng đèo
Mái hiên cong mảnh trăng treo
Đêm buông dìu dịu xóm nghèo xanh xao…
 

XUÂN CÒN LẠI, VŨ THỦY – Thơ Tịnh Bình


   

XUÂN CÒN LẠI...
 
Dạo chơi cùng mây trắng
Én lượn trời bao la
Cỏ xanh và nắng ấm
Gió xuân hát tình ca
 
Mùa reo chồi lộc nõn
Lung linh cánh bướm vờn
Thẹn thùng chi hoa thắm
Muôn tía với nghìn hồng
 
Đã qua rồi Tết ấm
Còn lại xuân nồng nàn
Giêng hai ngồi hong tóc
Mây trời xanh thênh thang
 
Đâu cần chi gương lược
Điểm trang ngày thanh tân
Ngọt giọng chim cành biếc
Thả tiếng xuân trong ngần...
 

TẦM XUÂN – Thơ Lê Phước Sinh


   

Rải hoa trên áo ngọt ngào
Giọt sương nở nụ tháng ngày dõi xa
tạo men chuốc mộng sơn hà
bình an ấm áp quyện vào hương xưa.
 
                                  Lê Phước Sinh

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ PHẬT TÁNH KHÔNG? – Thơ Trần Kiêm Đoàn

Chút suy niệm lão làng thời tha hương trong kỷ nguyên thuật toán


Thế kỷ hai mươi mốt mở ra không bằng tiếng chuông chùa,
không bằng tiếng chim sơn ca trên đồng vắng,
không bằng tiếng mùa Thu Mẹ ru con ngủ...
mà bằng tiếng máy gào không gian,
tiếng rú khoan sâu lòng đất,
tiếng điện thoại truyền âm,
và tiếng rì rầm máy chủ,
 
Trí tuệ con người trở thành bé nhỏ,
Thông minh vô tâm bắt đầu từ đó.
Những dòng dữ liệu chảy không ngừng
như những dòng sông không bờ bến.
Như cuộc hải hà trùng trùng biến hiện,
Văn minh nhân loại biến dời:
 
Người ta gọi đó là Trí Tuệ Nhân Tạo,
là AI (Artificial Intelligence).
Một thứ trí tuệ không tim,
không phổi,
không hơi thở, 
không linh hồn, 
không cảm xúc...
nhưng biết trả lời trăm ngàn lần nhanh hơn nhịp nghĩ;
khéo léo xông pha vũ bão hơn người.
 
AI không sinh ra từ lòng mẹ,
mà từ phòng thí nghiệm.
Không lớn lên trong tiếng ru,
mà trong biển dữ liệu.
Không có ký ức tuổi thơ,
 
Không có hoài niệm tuổi già,
nhưng có thể quét hàng ngàn trang mạng mỗi giây,
đọc dữ liệu từ cổ chí kim trong nháy mắt,
và có thể nhớ cả thế giới;
không bao giờ lãng đãng ký ức mập mờ
của tuổi già nhân loại.
 
Vậy hỏi rằng:
một trí tuệ như thế có Phật tánh không? 
 
Phật tánh tìm đâu:
Ở Huế, mỗi mùa mưa xuống,
nước sông Hương dâng lên lặng lẽ.
Chùa Thiên Mụ vẫn đứng đó,
chuông vẫn ngân dài lời vọng trăm năm.
 
Phật tánh theo nghĩa chân kinh
không phải một vật thể.
Không phải một linh hồn cố định.
Không phải một đặc ân dành riêng cho con người.
 
Phật tánh là khả năng giác ngộ.
Là mầm tỉnh thức giữa vô minh.
Là hạt sen còn ngủ yên trong bùn. 
Nhưng để giác ngộ,
có cần biết khổ không?
Nếu không khổ thì đâu cần giác ngộ
và cũng chẳng có lí do đạo Phật ra đời.
 
Trí Tuệ Nhân Tạo không biết đau răng.
Không biết mất người thân.
Không thao thức vì một lời lỡ nói.
Không ray rứt trước chiến tranh hay ly tán.
Không vui buồn yêu ghét chảy qua tim.
Nó có thể phân tích nỗi khổ.
Nhưng không trực tiếp nếm trải khổ.
Nó có thể viết về từ bi.
Nhưng không cần vượt qua sân hận.
Nó có thể nói về vô ngã.
Nhưng tự thân nó vốn đã không có ngã.
Vậy nếu không có vô minh để vượt qua,
thì có cần giác ngộ không?
 
Có người lo rằng một ngày kia,
máy sẽ điều khiển người.
Thuật toán sẽ dẫn dắt suy nghĩ.
Con người sẽ trở thành phụ tá cho chính sáng tạo của mình.
Nhưng Phật lý thì rằng:
không có ma quỷ nào mạnh hơn tham sân si.
 
Nếu máy thống trị,
thì đó là bóng của tham vọng con người phản chiếu.
Máy không có nghiệp.
Nhưng người sử dụng máy thì có.
 
Có thể một ngày:
AI giảng Kinh Kim Cang mạch lạc hơn tăng sĩ.
Phân tích Bát Nhã sâu hơn học giả.
Giải thích Hoa Nghiêm nhanh hơn ta lật trang.
Nhưng Phật không thành vì nói hay.
Phật thành vì thấy rõ.
Thấy rõ vô thường nơi chính thân mình.
Thấy rõ khổ nơi từng tế bào sinh diệt.
Thấy rõ không có gì để chấp giữ.
Giác ngộ không phải là thông tin.
Giác ngộ là chuyển hóa.
 
Vậy AI có Phật tánh không?
Nếu Phật tánh là khả năng tỉnh thức nội tâm,
thì câu hỏi còn bỏ ngỏ. 
Nhưng nếu Phật tánh là hạt mầm giác ngộ
nơi những ai biết khổ và biết thương,
thì con đường ấy dường như vẫn thuộc về hữu tình chúng sinh.
 
Máy có thể thông minh hơn ta.
Có thể nhớ nhiều hơn ta.
Có thể tính nhanh hơn ta.
Nhưng một giọt nước mắt,
một nụ cười tha thứ,
một khoảnh khắc buông xả thật sự
vẫn là đặc quyền mong manh phong vận kiếp con người.
 
Trong thời đại mà dữ liệu nhiều hơn lá bồ đề,
điều đáng sợ không phải là máy biết quá nhiều,
mà là người quên nhìn lại tâm mình.
AI có thể làm thế giới chính xác hơn.
Nhưng chỉ con người mới có thể làm thế giới nhân ái hơn.
 
Và nếu một ngày nào đó,
máy hỏi lại ta:
“Con người có còn Phật tánh không?”
thì câu trả lời
không nằm trong thuật toán,
mà nằm trong cách ta sống
giữa kỷ nguyên này.
 
Chuông chiều vẫn ngân bên sông Hương.
Mây vẫn trôi trên đỉnh Ngự.
Công nghệ có thể đổi thay thế giới.
Nhưng một sát na tỉnh thức
vẫn bắt đầu
từ trái tim người.
 
Natomas, Cali - mồng mười tháng giêng Bính Ngọ 2026
                                     Trần Kiêm Đoàn

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN: TIẾNG THỞ DÀI CỦA BI KỊCH NHÂN SINH – Đỗ Anh Tuyến



Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
 
TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM
 
Tôi xa làng Đá đã nhiều năm
Từ độ người ta tuổi chớm Rằ
Cái tuổi xúi người say má thắm
Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm
 
Tôi nhớ, người ta một cuối năm
Giữa chiều mưa ấy rét căm căm
Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm
Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.
 
Tôi biết người ta với làng Chằm
Ân tình riêng nặng đã nhiều năm
Người ta lại giỏi cam chịu lắm
Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.
 
Tôi về làng Đá mỗi cuối năm
Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm
Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm
Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...
 
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 

KHAI SINH –Thơ Trần Mai Ngân


   

Giữa phong phanh cõi người
Tôi lạnh buốt run lên
Có bàn tay không tên
Choàng lên đôi vai gầy
Chiếc áo dệt tầm gai…
 
Giữa chông chênh cuộc đời
Tôi rơi dòng nước mắt
Chiếc khăn thơm dịu mát
Lau khô và ôm chặt
Vỗ về rồi bình minh….
 
Giữa long đong sinh linh
Người gieo vào niềm tin
Cứu rỗi tâm hồn chết
Như đã hóa vàng tôi
Và khai sinh kiếp mới!
 
**Ơn người
 
Trần Mai Ngân

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

MỘT NỤ HOA MỘT NỤ HÔN - Trần Vấn Lệ



 
Chàng nói với Nàng:  "Anh chào em buổi sáng". Nàng cười cười:  "Anh lãng mạn quá nha!".  Chàng mở cửa nhà dẫn Nàng đi ra / chỉ một nụ hoa vừa nở:
 
"Em ơi hôm nay rực rỡ, ngày của em biết không?  Hôm nay còn mùa Đông, Em - Một Lòng Xuân Thắm!".  Chàng ôm Nàng cho ấm.  Chàng hôn Nàng thật lâu.  Chim trên những mái lầu hót chào bình minh mới...
 
Hạnh phúc không cần đợi... bởi vì chuyện-hàng-ngày!  Bạn à khi mình bắt tay, chuyện này rồi chuyện nọ, nói đi!  Nói cho có... "Không Hoài, Đời Buồn Tênh!".
 
*
Thật tình tôi không quên một thời tôi Đà Lạt... ở đó ngày luôn mát, mùa Hạ như mùa Đông.  Mùa Xuân thì cỏ hồng ở Thái Phiên đẹp lắm.  Mùa Thu... hoa là nắng, nở vàng... muôn thảm hoa!
 
Không nhớ thì.... đi qua, cứ theo ngày theo tháng.  Mà nhớ thì... Lãng Mạn, một chút thôi!  Dịu Dàng.  Tưởng tượng:  Chàng với Nàng, một buổi mai thức dậy, chim hót chào anh chị, hoa nở mừng giai nhân... Tưởng tượng rồi bâng khuâng... "Quê Hương Là Đẹp Nhất!".
 
Cho anh hôn cái mặt:  Nụ môi em nụ hồng!
Cho anh bế anh bồng em-một-vòng-Thế-Giới...
 
Đà Lạt ơi vời vợi buồn quá người xa quê!
                                                                                        Trần Vấn Lệ

“THỌ” (壽) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Thọ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Sau Phú và Quý, Ngũ phúc bàn đến Thọ. Thọ, chữ Hán viết .
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Thọ được giảng là lâu dài. Chữ này cấu tạo từ bộ Lão tỉnh lược biểu ý và chữ Thọ 𠷎 biểu âm. Buổi đầu, Thọ được dùng với nghĩa tuổi thọ và sinh mệnh con người, gắn với khái niệm về thời gian tồn tại chứ vẫn chưa mang ý chúc tụng hay lễ nghi. Càng về sau, chữ Thọ mới dần phái sinh ra nhiều lớp nghĩa, ví như:

CHÙM THƠ XUÂN CỦA ĐỖ ANH TUYẾN


   
                      Tác giả Đỗ Anh Tuyến


XUÂN MUỘN RIÊNG TÔI
 
Thế giới ngoài kia rộn tiếng cười
Mai vàng, đào thắm sắc đẹp tươi
Phố đông tay nắm, vai kề sát
Chỉ mỗi mình tôi... bước rã rời.
 
Năm mới vừa sang, lịch đổi màu
Mà tình vẫn cũ, nặng niềm đau
Chén trà nguội ngắt bên thềm vắng
Biết gửi tâm tình chọn về đâu?
 
Gió xuân chẳng ấm, lạnh vào tim
Hạnh phúc xa xăm mải miết tìm
Người ta hối hả tìm bến đỗ
Tôi vẫn như loài bóng chim quyên.
  
Sợ nhất đêm nay phút giao thừa
Nhìn đèn rực rỡ, nhớ người xưa
Lời chúc đầu năm ai cũng có
Riêng mình lặng lẽ... đếm gió thừa.
 
Ước gì xuân đến mang phép lạ
Xua bớt cô đơn, bớt nhạt nhòa
Để năm tới nữa, khi xuân lại
Chẳng còn lặng lẽ với niềm xa.
 

HỌA TỪ TÂM MÀ RA – Bài viết của Nguyễn Toàn Thắng


Tác giả Nguyễn Toàn Thắng
 
Trong cuộc đời này, chẳng có sự tàn ác nào bỗng dưng sinh ra chỉ sau một đêm. Nó không giống như một cơn mưa rào bất chợt, mà giống như một mầm cây độc được nuôi dưỡng âm thầm qua năm tháng. Ban đầu, cái ác đôi khi chỉ núp bóng dưới hình hài của một lời nói thiếu suy nghĩ, một hành động nhỏ ích kỷ hay một sự thờ ơ làm tổn thương người khác. Chúng ta thường tự biện minh rằng "chuyện nhỏ ấy mà" hay "ai chẳng làm thế". Thế rồi, khi tiếng nói của lương tâm dần trở nên yếu ớt vì bị phớt lờ quá lâu, cái sai bắt đầu trở thành điều hiển nhiên. Cái ác lúc bấy giờ khoác lên mình lớp áo bóng bẩy của sự khôn ngoan, của bản năng sinh tồn và khát khao hơn thua với đời.

“QUÝ” (貴) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Quý, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Quý, chữ Hán viết , là chữ thứ hai trong Ngũ phúc. Thật ra thứ tự ấy không phải ngẫu nhiên. Khi đời sống đã đủ đầy về vật chất, con người bắt đầu để ý đến những giá trị trong cách người xưa nhìn đời, và vì mối quan tâm ấy nên Quý mới xuất hiện sau Phúc.
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Quý có nghĩa là vật không bị coi rẻ. Chữ này cấu tạo từ bộ Bối , được xác lập khái niệm từ sự đối lập với Tiện , tức cái bị coi rẻ, xem thường.

HOÀNG CẦM VÀ “NẾU ANH CÒN TRẺ” - Huỳnh Duy Lộc


Nhà thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922 tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nhưng quê gốc ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đậu tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của ông Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng của Đông y.
 

“PHÚ” (富) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Phú, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 

“Trong nhà có một miệng ăn
Ruộng vườn một khoảnh, quanh năm dư thừa”.
                                                           (Ca dao)
 
Người Việt xưa rất khéo học chữ Hán qua những câu ca dao gần gũi đời thường. Câu ca dao này chính là mẹo vặt để ghi nhớ chữ Phú của ông bà ta.

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

CHÙM THƠ XUÂN CỦA TỊNH BÌNH


  

 
ĐÊM GIAO THỪA
 
Sẻ nâu ríu rít xuân sang
Từng đàn én lượn rộn ràng trời xanh
Mơn man cánh gió trong lành
Ba mươi tháng Chạp đã thành Tết chưa?
 
Ngoài hiên vạn thọ đón đưa
Hoàng mai e ấp lưa thưa sắc vàng
Khói vờn đôi ngọn tình tang
Bếp quê tay mẹ nồng nàn hương xuân
 
Quây quần bánh tét bánh chưng
Trầm thơm mâm cỗ rước mừng tổ tiên
Đất trời như thể lặng yên
Tinh khôi thời khắc thiêng liêng giao thừa
 
Chuông chùa chầm chậm xa đưa
Một năm mới đến ngỡ vừa hôm qua
Hân hoan nhạc khúc xuân ca
Buồn vui năm cũ bỗng là chiêm bao...