BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

GỌI ANH MÙA XUÂN – Thơ Trần Mai Ngân


   

Anh
Lại ngồi bên em
Cầm đôi tay êm
Lắng nghe cùng nhau
Năm cũ qua mau…
 
Anh
Xuân đang lướt qua
Bằng gió lụa là
Bằng hương ngọc ngà
Như tình đôi ta…
 
Anh
Lại đây với em
Để ta có thêm
Một mùa Xuân vui
Qua bao ngọt bùi
 
Anh
Đôi ta đưa tay
Tiễn năm phôi phai
Cảm ơn tháng ngày
Dẫu có đắng cay
 
Anh
Từ nay, hôm nay
Trái tim Nguyên Đán
Viết tiếp câu chuyện
Không có buồn phiền
 
Em cười rất nhẹ
Nâng chén Xuân say
Đời chếnh choáng đời
Em say… Em say….
 
           Trần Mai Ngân
 
** Những ngày giáp Tết

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

NHẠC SĨ PHẠM DUY KỂ VỀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC “ÁO ANH SỨT CHỈ ĐƯỜNG TÀ”



Cuối năm 1947, tôi từ Việt Bắc (Cao-Bắc-Lạng) xuống Khu Ba (Chợ Đại, Cống Thần) rồi có ý định đi theo Trần Văn Giàu vào Nam chiến đấu. Nhưng khi vào tới Thanh Hóa (Khu 4 - làng Quần Tín) thì tôi gặp tướng Nguyễn Sơn và ở lại đó, gia nhập Ban Văn nghệ của Trung đoàn 304. Tại đây tôi gặp Hữu Loan...
 

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Có kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối (+4 nét)
Lục thư: hội ý
Hình thái: 毌貝
Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

HÃY CẨN TRỌNG VỀ SỰ BỊA ĐẶT CỦA AI KHI NHỜ AI DỊCH CHỮ HÁN – Bài viết của Son Tran


Ảnh 1
 
Học trò cũ của tôi ở Đại học Phú Xuân là Thu Amy, gửi cho tôi 3 bức ảnh kèm lời nhắn: “Nhờ thầy xem giúp cặp câu đối chữ Hán ở ảnh 1 dịch sang tiếng Việt có đúng như AI dịch ở ảnh 2 và ảnh 3 không?”.

TƯỞNG NHỚ VỚI LÒNG TRI ÂN “THẦY ĐOÀN KHOÁCH” – Bài viết của Uoc Nguyen


Thầy Đoàn Khoách

Bài viết của Uoc Nguyen (1930-2026) là nhà nghiên cứu Hán-Nôm và nhà giáo uy tín. Ông chào đời tại Thừa Thiên Huế, tốt nghiệp Thủ khoa Đại học Sư Phạm Huế năm 1960 với huy chương vàng. Giảng viên ĐH Sư Phạm Huế. Trợ lý Nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên cứu sở thuộc Đại học Trung văn Hong Kong. Giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons, U.K. Giảng viên Viện Việt học tại Garden Grove, California U.S.A.  Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, cư trú tại San Diego, California. Ông qua đời ngày 25/01/2026 tại Mỹ, hưởng thượng thọ 96 tuổi.


Nhiều bài viết của ông từng đăng trong các tạp chí: Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt… Ông còn được biết đến qua các hoạt động hội ngộ cựu giáo chức và sinh viên.
 
SÁCH CỦA ÔNG gồm:

• Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965).
• Văn Tịch Chí (Huế, 1970).
• Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979).
• Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981).
• Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An & Bến Tre, 1982 — hợp soạn).
• Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002).
• Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007
v.v.
                                                                 Bài viết của Uoc Nguyen
*
Ghi chú:
Tôi may mắn được theo học ông suốt 4 năm ĐH Sư phạm Huế (1970-1974)

HAI THẾ KỶ HÀNG HÀNG THIÊN THU - Trần Vấn Lệ



Cuối năm... mưa liên miên, "ra tháng Giêng sẽ ngớt", câu nói tưởng hời hợt thế mà như nguyện cầu!
 
Năm Mới mới bắt đầu, mưa "nhẹ nhàng" thấy rõ.  Trời dễ thương không gió, hoa cỏ dễ thương theo...
 
Những giọt mưa trong veo tiếp theo thưa từng bữa.  Ngày Mồng Ba rực rỡ:  Nắng hé màn Tháng Giêng!
 
Nắng không là của riêng dù có người ôm ấp!  Nhưng nhiều giờ vuột mất, mưa còn nước thì rơi...
 
Cảnh:  Người giỡn với Trời... giống thời người ta nhỏ / tan học về núp gió... rồi chạy ào ra mưa!
 
*
Tôi nhớ lại tuổi thơ thời nhà quê cố quận!  Yêu mưa như yêu nắng!  Nhớ nắng từng khi buồn...
 
Vậy mà cũng lớn khôn... thản nhiên vào dông bão, đời thay bao sắc áo... áo não một kiếp người!
 
Ai tha hương mà cười khi trời mưa rả rích? 
Có con chim chàng nghịch vừa hót trên cành mưa!
 
Có ai mút câu thơ tưởng cà rem không nhỉ?  Trời ơi hai Thế Kỷ... mới mà Hai-Trăm-Năm! (*)
                                                                                     Trần Vấn Lệ

(*) Thế Kỷ 20 bắt đầu năm 1900, nước TA thì từ năm 1954... Thế Kỷ 21 bắt đầu năm 2000, nước TA thì từ năm 1975 đến nay... 2026...  Số thời gian không viết theo số thập phân, là không có chấm hay phết, vì thời gian không bao giờ dừng... Thế Kỷ dài 100 năm, nếu vui thì chớp mắt mà buồn thì Thiên Thu!

NHỮNG NĂM BÍNH NGỌ ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - Vũ Thị Hương Mai



Trong lịch sử Việt Nam, các năm Bính Ngọ (chu kỳ 60 năm một lần) thường gắn liền với những bước ngoặt quan trọng về chính trị, quân sự và văn hóa. Dưới đây là những năm Bính Ngọ tiêu biểu.
 
1. Năm Bính Ngọ 1066:
 
Đổi tên nước thành Đại Việt
 
Trong lịch sử Việt Nam, năm Bính Ngọ 1066 (năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 8) dưới triều vua Lý Thánh Tông là một dấu mốc đặc biệt quan trọng với những sự kiện định danh dân tộc và củng cố niềm tin tâm linh.
 
1. Đổi tên nước thành Đại Việt
 
Đây là sự kiện quan trọng nhất của năm 1066, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc:
 
Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông quyết định đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt (có từ thời Đinh Bộ Lĩnh) thành Đại Việt.
 
Ý nghĩa: Tên gọi này thể hiện sự tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế một quốc gia độc lập, hùng mạnh và ngang hàng với các đế chế phương Bắc. Quốc hiệu Đại Việt đã gắn liền với những thời kỳ huy hoàng nhất của các triều đại Lý, Trần, Lê và tồn tại bền vững suốt 738 năm (đến năm 1804).
 
2. Xây dựng tháp Báo Thiên - "An Nam tứ đại khí"
 
Năm 1066 cũng ghi dấu sự phát triển rực rỡ của Phật giáo và kiến trúc thời Lý:
 
Sự kiện: Vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây dựng cây tháp lớn tại chùa Báo Thiên (nay thuộc khu vực Nhà thờ Lớn Hà Nội).
 
Đặc điểm: 
Tháp cao 12 tầng (khoảng 70m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Cùng với đỉnh tháp này, các báu vật khác sau này được dân gian xếp vào nhóm "An Nam tứ đại khí" (4 quốc bảo lớn của Việt Nam thời trung đại). Đây là biểu tượng cho sự thịnh trị và sự kết hợp hài hòa giữa quyền lực nhà nước và tôn giáo.
 
3. Sự kiện thiên văn: Sao chổi Halley xuất hiện
 
Sự kiện: Theo sử sách ghi lại, vào tháng 3 năm Bính Ngọ 1066, một ngôi sao lớn (sao chổi) đã xuất hiện trên bầu trời Thăng Long.
 
Ghi chú: 
Khoa học hiện đại xác nhận đây chính là lần xuất hiện của Sao chổi Halley. Trong bối cảnh thời bấy giờ, điềm báo này được coi là sự thông báo về những biến động lớn hoặc sự ra đời của những quyết sách vĩ đại (như việc đổi tên nước).
 
4. Ổn định và thịnh trị
 
Năm 1066 nằm trong giai đoạn hoàng kim của nhà Lý. Đất nước thái bình, kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ấm no. Sự ổn định này là tiền đề giúp Lý Thánh Tông xây dựng quân đội hùng mạnh để bảo vệ biên giới và mở mang bờ cõi về phía Nam sau này.
 
Tóm lại, năm Bính Ngọ 1066 là năm của sự định danh và tự cường, khi cái tên Đại Việt chính thức vang lên trên bản đồ thế giới, đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc.
 

BÓNG HÌNH – Thơ Lê Kim Thượng


  

Bóng Hình
 
1.
 
Mấy mùa mưa nắng, nắng mưa
Làm sao gặp được người xưa của mình
Làm sao quên được… “Chữ Tình”
Làm sao quên được bóng hình em xưa…
Con đò trong gió lưa thưa
Đón đưa, đưa đón sớm trưa đậm đà
Líu lo chim ríu rít ca
Hừng đông nắng mới chan hòa chứa chan
Nắng vàng ươm sợi tơ vàng
Như thơ, như mộng thênh thang quanh mình
Thương yêu hứa hẹn với tình
Bao nhiêu năm tháng chúng mình vẫn đôi…
Dỗi hờn nước mắt tràn rơi
Trong lòng ray rứt chẳng lời trách nhau
Buồn vui ngày ấy qua mau
Lời thề chung thủy ngàn sau không rời…
 

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

CỦ MẬT 糾密 - Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Tháng Chạp trước Tết còn được người Việt từ xưa gọi là tháng củ mật. "Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ghi:
- Củ-mật. Nói về độ gần tết hay có trộm cướp, nhà nào cũng phải giữ-gìn cẩn-thận: Tháng củ-mật.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

“ÔNG LÁ BỐI” TỪ MẪN VÕ THẮNG TIẾT - Trinh Anh Khoi


Photo: Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối

Trong một bài trước, tôi có kể về mối quan hệ đặc biệt giữa học giả Nguyễn Hiến Lê và “ông Lá Bối” Từ Mẫn để cho ra đời bản dịch vĩ đại của tác phẩm Chiến Tranh Và Hòa Bình. Câu chuyện tiếp theo là diễn ra sau đó - Theo hồi ức của nhà văn Song Thao.
 

HỌC GIẢ TRẦN TRỌNG KIM, NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC – Thu Hương



Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là một học giả, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần, từng làm thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam vào năm 1945. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo...

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

TÌNH MẸ - Thơ Nhã My, Tố Mai phổ nhạc và trình bày


Nhà thơ Nhã My

                

TÌNH MẸ
(Kính tặng MẸ)
 
À ơi tiếng võng mẹ ru
Gom trăng góp gió mùa thu đợi chờ
Tiếng ru ngọt tới bây giờ
Mặc bao mưa nắng bơ phờ phận duyên
Đường đời mẹ lắm truân chuyên
Gánh buồn mẹ đổ bên nguồn sắc không
Nuôi con năm tháng long đong
Miệng cười cố gượng mà lòng héo hon
Giữ chi một chữ sắc son
Cô phòng giá lạnh héo mòn mẹ ơi
Thủy chung mẹ trọn một đời
Bao nhiêu gian khổ gom về một thân
Góa chồng từ thuở đang xuân
Dung nhan chẳng tiếc vạn phần vì con
Trần gian một cuộc vuông tròn
Trăm năm MẸ đã cho con vẹn tình...
 
                                          Nhã My

TẠI SAO LÊ NGHI DÂN KHÔNG ĐƯỢC XEM LÀ VUA CHÍNH THỐNG CỦA LÊ SƠ – Theo Sương Khói Đông Kinh 東京霧煙



Tháng 10 năm 1459, Lê Nghi Dân cùng viên chỉ huy sứ Lê Đắc Ninh, là người chỉ huy vệ binh làm nội ứng, cùng các thủ hạ tin cậy là Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng và hơn 100 quân ban đêm bắc thang chia làm ba đường vào cung cấm sát hại Lê Nhân Tông. Hôm sau, nhóm quân đó giết chết cả Hoàng thái hậu. Khi lên ngôi, Lê Nghi Dân có ban xuống tờ ngụy xá:
 
"[...]Thái hậu bắt giết cả đi để diệt khẩu. Cho nên từ đó đến giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn. Diên Ninh tự biết mình không phải là con của tiên đế, hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3, tháng 10 năm nay, đã ra lệnh cho Trẫm lên thay ngôi báu.[...]
 
Khi một người sát hại vua cũ (tạo phản) để lên ngôi, cần tạo ra cái cớ để khẳng định tính chính danh của mình. Lê Nghi Dân đã bôi nhọ triều đại của Lê Nhân Tông bằng hai việc:
- Đời sống nhân dân Đại Việt dưới thời kỳ nhiếp chính của Nguyễn Thái hậu vô cùng khổ cực vì mất mùa, tai dị.
- Bôi nhọ tính chính danh của Lê Nhân Tông (nói rằng Nhân Tông không phải là con ruột của Thái Tông)
 

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

MƯA NGÀY ĐẦU NĂM MỚI – Thơ Trần Vấn Lệ


   

Mưa liên tiếp!  Mưa hai ngày không dứt!
Hôm nay mưa... Mưa trọn ngày đầu năm.
Đang giữa trưa, không thấy mùa Xuân,
Chiều, sẽ tối, còn mưa... thôi đi ngủ!
 
Năm mới năm me mà như năm cũ
Ờ mà năm nào chẳng gió chẳng mưa?
Mưa Việt Nam đi chợ phải đi đò...
Mưa Miến Điện, qua Thái Lan trốn núp...
 
Mưa quốc tế...nơi nào nhiều thì ngập
Ít thì tuôn ra biển, lại mưa về...
Người Việt Nam mình - những kẻ xa quê
mưa, nhắm mắt... không thiết tha gì nữa!
 
*
Năm mươi năm hơn, ai đi cũng hứa
sẽ trở về, mà... mưa ở nghĩa trang!
Năm mươi năm hơn... những cái dấu than
Những nhà thơ, nhà văn dùng, xếp hàng hàng lớp lớp!
 
Những tiếng khóc... là mưa, thôi!  Đóng hộp!
Những tiếng cười... là nắng, đợi!  Tàn mưa!
Cà Phê Hiên mở cửa lúc Không Giờ,
Cô Chủ Quán đẹp như thời con gái...
 
                                                                Trần Vấn Lệ

THỰC MƠ – Thơ Lê Kim Thượng


   

Thực Mơ
 
1.
Ước gì trở lại với quê
Buông rơi phiền muộn, trở về tuổi thơ…
Làng quê như thực, như mơ
Bâng khuâng xao xuyến bài thơ không lời
Bồng bềnh, lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi ngọt lành
Bến sông sóng vỗ đầu gành
Lời ru Đất Mẹ… ru anh ngàn trùng
Cuối mùa con nước khô bùn
Gió Heo May thổi qua hun hút đồng
Cô đơn đá núi trông chồng
Lưng còng như bóng Mẹ trông con về
Chiều quê lặng lẽ cảnh quê
Đong đưa cánh võng tỉ tê gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành đò ngang…
 

NGẬM NGÙI MẤY NẺO SẮC KHÔNG – Thơ Tịnh Bình


    

Trầm ngâm lau lách
Trở bấc chưa gió ngóng sậy đơm bông
Khuất xa đường trời
Vài cánh mây lơ đãng
Bóng chim nào lạc dấu một đường bay
 
Ta lạc mất khuôn mặt mình
Ngày hạt bụi hoài thai lòng mẹ
Lối mòn xưa có đón ta về lại
Tàn cõi mộng người
Vòng khói tỏa lang thang
 
Sa - bà một cuộc quá giang
Sông xưa bến cũ chiều tàn mênh mông
Ngậm ngùi mấy nẻo sắc - không
Đời người viết vội đôi dòng rồi đi...
 
                                      Tịnh Bình

NHA TRANG BIỂN GỌI - Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn, ca sĩ Hà Thanh trình bày

   
     

NHA TRANG BIỂN GỌI
 
Biển phố Nha Trang biển phố dài
Hàng cây dương liễu bóng đan soi
Bồng bềnh con sóng xô bờ cát
Động cả trùng dương tiếng gió gọi
 
Hờ hững khăn san mộng ngút sầu  
Hòn Chồng tìm dấu bước chân xưa
Tiếng Cầm đâu lại Hòn Tre nhớ
Lệ đá chờ mong bến Vọng Phu
 
Hỏi Hòn Một còn say hương nắng
Khói Hòn Tằm còn trắng xa khơi
Đàn Hải Âu còn tung chao cánh
Về Hòn Sầm cát thắm đầy vơi
 
Thương Nha Phu mưa chùng sương tóc
Đóa Hoàng Lan Cầu Đá ngẩn ngơ
Qua Hòn Mun lời ai hẹn cũ
Đã phai rồi ...từ lúc mùa đi...
 
                                 Hồng Thúy

CÂY NÊU TÂM ẢNH – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn



Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
  
Trong tâm thức Việt:
Bụt là cánh cửa tâm hồn, nơi lòng tin nhân hậu được gieo.
Phật là con đường dấn thân tiếp nối vào đời, nơi trí tuệ và giải thoát được mở ra.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

NƯỚC NON NẶNG MỘT LỜI THỀ - Thơ Trần Trung Tá




"Biết ai tri kỷ đời nay
mà đem Non Nước làm rày chiêm bao!"
                                                  Nguyễn Trãi
 
Hình như ai cũng vậy... có một thời bềnh bồng! (*)
Tôi đang nhìn con sông nước xuôi dòng ra biển
và nỗi buồn mất biến còn lại tuổi thơ thôi!
Ai má hồng lên mười, lên hai mươi, mãi mãi...
 
Tại vì ai con gái mà mình chê giai nhân?
Tại vì có mùa Xuân... mình quên mất mùa Hạ?
Nhưng mình hôn chiếc lá mình nhớ hoa trời ơi...
Hoa nở chỗ ai ngồi.  Hoa theo chân ai bước.
 
"Dãy hoa nép mặt gương lồng bóng, ngàn liễu rung cương sóng gợn tình! 
Thơ của Chu Mạnh Trinh... lộng lẫy hơn Lý Bạch!
"Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hương nồng..." (**)
 
Lý Bạch say ung dung nằm ngó trăng và ngủ...
Mình tay che mắt ngó... đời chỉ một "người ta".
Con ngựa bay lướt qua, rèm tơ chị ơi... gió!
Nhân sinh mạng như cỏ, đứng dậy cờ bay theo...
 
*
Thơ Thanh Tịnh buồn hiu thấy trong bài "Mòn Mỏi".
Ai có nghe gió nói một điều gì đó không?
Sao tôi nghe tiếng lòng từ trái tim tôi đập!
Tiếng tim người vong quốc tiếng khóc của thời gian!
 
Việt Nam?(***)  Không!  Không!  Không!  Chúng ta không chạy trốn!
Chúng ta là mây cuộn, nhìn kìa:  Mây Trường Sơn!
Chúng ta Fan-Si-Pan nâng nước non đứng dậy:
"Ba Vì Tây Lĩnh Non xanh ngắt!  Một dải Thu Giang Nước Vẫn đầy!".
 
Thơ Tản Đà còn đây:
 
"Nước Non nặng một lời thề:
Nước đi ra biển sẽ về với Non!"
                                                                            Trần Trung Tá

(*) Lời nhạc của Trần Nhật Ngân "Một mai qua cơn mê, sau cuộc đời bồng bềnh anh lại về bên em..."

(**) Thơ Lý Bạch mở đầu Thanh Bình Thập Điệu ca ngợi người đẹp Dương Quý Phi.

(***) Việt Nam, chữ Việt viết bộ Tẩu", Vua Càn Long Tàu buộc Gia Long Ta phải dùng thay vì Nam Việt, chữ Việt viết bộ Mễ, từ năm 1804, Lịch Sử Ta Cận Đại ghi rõ, nhẽ nào Dân Ta ngó lơ? Nhớ chứ, Vua Minh Mạng sửa tên nước lại là Đại Nam (1820) và Vua Bảo Đại vẫn xưng "Tôi là Đại Nam Hoàng Đế" (1926-1945)?