BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

CÁI ẤY MAO CŨNG THÚ, VÔ MAO CÀNG TUYỆT THÚ – Nguyễn Xuân Diện



Ngày 24.3.1995, trong chuyến cùng đi công tác ở Hải Hưng, GS. Văn Tạo - nguyên Viện trưởng Viện Sử học đã trao cho tôi bài thơ này. Đây chính là một bài hát ca trù.
 
Tôi rất thích bài ca trù này. Và kể từ đó cất công tìm hiểu thì được biết đây là bài ca trù khởi phát từ các ca quán (nhà hát cô đầu) ở Ba La Bông Đỏ (Hà Đông) rồi lưu truyền phổ biến trong các ca quán khắp các tỉnh thành miền Bắc hồi đầu thế kỷ 20. Có cụ cao niên nói rằng, tương truyền bài này là của cụ Tam nguyên Vũ Phạm Hàm làm ra.
 

HIỆN SINH 現生 – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng

"Hiện sinh" 現生 chỉ sự tồn tại, hiện hữu, sống còn. Tiếng Trung Quốc gọi chủ nghĩa hiện sinh là "tồn tại chủ nghĩa" 存在主義 (giản thể: 存在主). Tiếng Nhật gọi là "thực/thật tồn chủ nghĩa" - "jitsu-zon shu-gi" 実存主義 (じつぞんしゅぎ), tiếng Hàn đọc là "shil-jon ju-ui" 실존주의 (實存主義).
 

EXISTENTIALISM - CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
EXISTENCE - EXISTENTIAL - HIỆN SINH - HIỆN HỮU
EXISTENTIAL CRISIS - KHỦNG HOẢNG HIỆN SINH

Chủ nghĩa hiện sinh xoay quanh sự tồn tại của con người, theo đó mỗi cá nhân tự do lựa chọn và tạo nên ý nghĩa của sự tồn tại, cuộc sống của mình, nhờ vào lí trí, ý thức. Cuộc sống thực tế của từng cá nhân tạo nên bản chất thật sự của họ, chứ không phải bản chất có sẵn được kết luận chủ quan bởi người khác. Cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh là "l'existence précède l'essence" (tiếng Anh: existence precedes essence), thường được dịch là "hiện sinh có trước bản chất" hay "hiện hữu có trước bản chất"...

CẢM NHẬN VỀ NHỮNG VỤ ÁN VĂN CHƯƠNG – Bài viết của Thái Hạo

 

Những vụ án văn chương nổi tiếng như Tây Tiến, Nhân văn - Giai phẩm, Màu tím hoa sim, thì chắc ai cũng biết (?). Nhưng đó chỉ là “muối bỏ bể”. Ở Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua còn biết bao nhiêu vụ án bi hài khác mà đến nay có lẽ chưa ai thống kê cho đầy đủ được. Một trong những vụ “ít nổi tiếng” như thế là “vụ án Về Kinh Bắc”.
 

BUỔI SÁNG SAU NOEL 2025 - Trần Vấn Lệ



Ngày hăm lăm là hết... Lễ Mừng Chúa Giáng Sinh!  Ai ai cũng bất bình:  "Ngày Vui Qua Quá Chóng!".
 
Trời có nắng và nóng... "chỉ chóng mặt thôi hà!".  Người ta nghe giọng cùa người đàn bà già / nói với ông chồng già... như thế!
 
Và hai người tới ghế / đá công viên / nhìn trời. Nhìn những đám mây trôi... nhìn những nụ cười Năm Mới!
 
Công viên không ai đợi... người ta đến tung tăng!  Những cô gái xanh Xuân... giống giống thơ Hàn Mạc Tử: "Mai này trong đám Xuân xanh ấy / có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!".
 
Sắp lên thêm tuổi đời... cũng có người tư lự - nhất là người Việt mình xa xứ / thấy mắt ai cũng đầy...
 
Những áng mây không bay / thấy hay hay thiệt chớ!  Quê Hương còn dám bỏ sao nỗi buồn mang theo... như "vác pháo qua đèo"... như nhời Hồ Chủ Tịch?
 
Chỉ đá không nhúc nhích!
Chỉ nước ao rung rinh! (*)
Thơ Bà Huyện Thanh Quan ướt bàn tay tôi Trời ạ!
 
Tôi bèn... có hai câu thơ, cũng thả:  "Hỡi ơi chí nhớn trong thiên hạ, gom lại không đầy mắt Việt Nam!".
 
Sáng nay, sáng Hăm Lăm, tháng Chạp, sau ngày Lễ.  Mới tinh sương nghe trễ tiếng gọi đò... trong mơ!
 
                                                                                       Trần Vấn Lệ

(*) Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nước thì cau mặt với tang thương! (Thơ của Bà Huyện Thanh Quan).

TRĂNG Ở LẠI – Thơ Tịnh Bình


   

Bữa thu đi
Chiếc lá vàng bịn rịn
Giấc mơ sương
Bèo bọt kiếp phù trầm
Trôi chầm chậm
Muôn đời không phương hướng
Vạn nẻo trời
Vạn lối phía mây bay
 
Thương lầm lạc
Cánh chim nào biệt xứ
Gót phiêu du
Đâu là chốn quê nhà
Chiều xuống thấp
Sầu chi cơn nắng quái
Ngập chân ngày
Còn vọng tiếc hoàng hôn
 
Trăng ở lại
Trên vòm trời xa ngái
Bấc trở mùa
Chao chát phía thu đi
Đêm mở mắt
Trên cành sương lệ ướt
Soi gương hồ
Úp mặt lá sen khô...
 
                    Tịnh Bình   

TƠ LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


   

Tơ Lòng
 
1.
Nhớ thời mình có nhau rồi
Trăm năm thề hẹn một đời tóc tơ
Anh giờ nửa tỉnh, nửa mơ
Nhớ thời dệt mộng, ươm tơ… tình nồng
Nắng nghiêng rơi vạt áo hồng
Áo cài hoa nắng bềnh bồng mông lung
Lời yêu em nói ngập ngừng
Để cho anh hóa người dưng hôm nào
Trong vòng tay ấm nôn nao
Mắt đen lung liếng ngọt ngào lời em
Hôn lên đôi cánh môi mềm
Hôn rồi, hôn nửa, hôn thêm… ấm lòng
Em đưa tay ngắt nụ hồng
Hoa chanh, hoa bưởi ướp nồng ngón tay
Bên nhau, ngày đã cạn ngày
Trời tuôn mưa bụi lây rây đường về…

HÀI ĐỒNG 孩童 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



"Hài đồng" 孩童 trong Hán ngữ là một cách để chỉ trẻ nhỏ.
- hài : trẻ con, như trong "hài nhi", "hài tử", chữ này mang bộ "tử" (con) và kí âm bằng chữ "hợi" ("hợi" là âm Hán-Việt từ xưa còn bảo lưu đến nay, nếu phiên thiết lại lần nữa sẽ được âm "hãi")
- đồng : đứa trẻ, đứa nhỏ, như trong "nhi đồng", "đồng thoại".
Trong Ki-tô giáo, Chúa Hài Đồng hay Giêsu Hài Đồng là khái niệm chỉ đấng Giê-su Ki-ri-xi-tô (Giêsu Kitô) thời còn là trẻ nhỏ. Theo quan niệm Chúa Ba Ngôi - "Tam Vị Nhất Thể" 三位一體 thì chúa Giêsu là Chúa Ngôi Hai, tức là Chúa Con, mang hình hài của con người và trải qua các giai đoạn từ thơ ấu đến trưởng thành. Ngày ra đời của Chúa Hài Đồng được thống nhất kỉ niệm vào dịp lễ Giáng sinh hằng năm, vào ngày 25/12 của Tây lịch.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

MẶT TRỜI LÊN HOA NỞ EM YÊU À EM YÊU - Trần Vấn Lệ


 
Trước Noel thường vậy:  Trời đẹp như mùa Xuân!  Chỉ sợ sau Noel, mùa Đông... mùa của Tết!
 
Bây giờ thì... có rét nhưng mà có lẽ vui vì nghĩ đến Ông Trời giáng sinh trên trái đất!
 
Tất cả đều Sự Thật, có phải không em yêu?  Hai ngàn năm chưa nhiều... thì chúng mình mong tiếp!
 
Thế giới đang thiêm thiếp, tôi vén mây mặt trời cho bình minh khắp nơi đẹp như em yêu quý!
 
Hòa bình nửa Thế Kỷ, mộng mơ còn suốt đời... Tự dưng tôi nghẹn lời nhớ những người bỏ cuộc!
 
Họ - những người đi trước, bao giờ... tới kiếp sau?  Bây giờ... vẫn nôn nao:  đêm mai, Chúa xuất hiện!
 
*
Hỡi những người trên biển Bình Minh Thời Lênh Đênh!
Có nhiều chuyện muốn quên... thật lòng muốn quên hết!
 
Hơn tháng nữa là Tết... Bao Nhiêu Người Tha Hương?
Họ sẽ Hết Giữa Đường?  Họ Về Lại Cố Xứ?
 
Mặt trời lên, hoa nở.  Em yêu à, Em yêu... diễm kiều từng nhánh liếu đẹp như tuổi niên thiếu chúng-ta-trên-cánh-đồng! 
 
... rồi đi nhặt hoa vông ở Vườn Bông Phan Thiết! 
                                                                                     Trần Vấn Lệ

VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ - Đặng Xuân Xuyến



Trong lá số Tử Vi, cung Điền Trạch chính là cái “giỏ” đựng nhà đất của mỗi người. Khi đã đi qua đủ những thăng trầm để tin vào sự an bài của định mệnh, đủ tĩnh tại để thấu hiểu lẽ nhân quả, ta sẽ nhận ra ngôi nhà không chỉ được xây bằng gạch đá, vôi vữa mà nó được dựng lên từ chính cái Phúc Đức hay Nghiệp Quả của mỗi người. Thế nên, việc cố tìm một chốn an cư hoàn hảo về phong thủy hay vắt kiệt tâm trí tìm kiếm địa thế đại cát, đôi khi lại chỉ là việc “Dã tràng xe cát” trước những sắp đặt của số phận. Phong thủy thực sự không nằm ở hướng cửa, màu sơn mà nằm ngay trong cái “giỏ” Điền Trạch mà ta đã tự tay đan dệt từ bao tiền kiếp. Nói thế, không có nghĩa là ta cứ mặc kệ cho số phận đưa đẩy. Khi phúc chưa đủ dày, việc cưỡng cầu những điều quá tầm tay thì cũng chỉ như “Dã tràng xe cát” nhưng nếu ta biết chăm chút cho gian nhà thêm ngăn nắp, sửa sang góc khuyết cho dòng khí luân chuyển hợp lý thì chính sự vun vén ấy sẽ bồi đắp thêm năng lượng cho mảnh đất mình cư ngụ. Một ngôi nhà mái tranh vách đất nếu lòng người an định và biết cách sắp đặt cho hài hòa, ấm cúng thì tự khắc đất ấy cũng hóa đất lành.
 

THẢO THƠM – Thơ Lê Kim Thượng


   

Thảo Thơm
 
1.
Xa rồi… nhớ mãi miền quê
Con tim thao thức nhớ về… “Ngày xưa…”
Mồng tơi, rau má, canh cua
Cải ngồng, cà pháo muối dưa cơm chiều
Ruộng đồng hôm sớm bao điều
Mẹ Cha chăm chút bao nhiêu cho vừa
Ngày dài không quản sớm trưa
Đông về rét buốt, nắng mưa trưa hè
Quê chiều rộn rã tiếng ve
Đôi bò thong thả kéo xe trên đồng
Bên núi rừng, bên dòng sông
Mùi quê, mùi đất bềnh bồng tỏa hương
Thân gầy nhuộm nắng, nhuộm sương
Cái cò lặn lội thân thương trên đồng
Khi mưa gió, lúc bão giông
Mẹ hiền gian khổ lo chồng, lo con…
 

GIẢI MẬT TIẾU NGẠO GIANG HỒ KỲ I - Bài viết của Nguyễn Xuân Đoài



Tiếu ngạo giang hồ là bộ trường thiên tiểu thuyết trác tuyệt của Kim lão tiền bối, một bộ truyện mà lạ thay, hai phái chính tà rốt cuộc đều rặt một lũ ác nhân. Hai nhân vật nam chính và nữ chính của bộ truyện (Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh) được xây dựng nhạt nhẽo, trong khi các nhân vật tà ác lại được tác giả chăm chút, khắc họa cực kỳ tỉ mỉ: Đông Phương Bất Bại, Nhậm Ngã Hành, Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi... Sau khi bộ truyện này ra đời, Kim lão tiền bối bị cả hai phe Mao, Tưởng chung tay lên án, bởi đơn giản, Tiếu ngạo giang hồ không đơn thuần là truyện chưởng mà là một “tiểu thuyết chính trị”, trong đó Mao đảng được coi là nguyên mẫu của Nhật Nguyệt thần giáo.
 

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

XÉT LẠI VAI TRÒ CỦA TRẦN QUỐC TUẤN - Tác giả Lê Huy Vinh

                    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả
 

Trên trang hải ngoại nọ, có câu đối độc đáo, không đề tên tác giả:
 
Địa chuyển ngã Việt chủng cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý;

(Đất Việt mà dời sang phương Bắc, cõi Âu châu đã không có kỵ binh Mông Cổ tung hoành vạn dặm)
 
Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung quốc sử tiền miễn Nguyên triều đô hộ nhất bách niên.

(Trời sinh tài lành này vào nhà Tống, lịch sử Trung Hoa trước đây đã khỏi phải quân Nguyên đô hộ cả trăm năm).
 
Câu đối không nêu tên nhân vật, nhưng nghe qua ai cũng đoán được, chính là vịnh Trần Quốc Tuấn, tức Hưng Đạo đại vương. Theo đó mà suy thì dân tộc ta thật may mắn mới sản sinh được bậc thần tướng lỗi lạc dường ấy, nhưng ấy cũng là vận rủi cho đại vương vì phải thác sinh vào đất nước này; giá sinh ra ở Tây Tàu, hẳn công nghiệp ngài còn rạng rỡ không biết ngần nào. Thế kỷ XXI, Việt Nam chuẩn bị xuất khẩu… danh tướng rồi chăng?
 
Những lời ca ngợi Thánh Trần thật đã tràn lan xích đạo. Nếu ví Hưng Đạo vương như con rồng thần, thì mây vờn ngũ sắc huyền ảo che phủ mình rồng còn dày hơn cả vảy thực của rồng. 700 năm qua là hơn 30 thế hệ, hết lớp này đến lớp khác liên tục thay nhau vun đắp bát hương cho hình tượng Thánh Trần, mấy ai ngậm ngùi cùng bi kịch lớn của đời ông.
 

PAUL NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: GÃ HỀ MỘNG DU TRONG VŨNG BÙN HOANG TƯỞNG – Đặng Xuân Xuyến



Trong giới cầm bút, đôi khi người ta bắt gặp những hiện tượng kỳ lạ đến mức khó tin, mà Paul Nguyễn Hoàng Đức là một điển hình cho sự lệch lạc giữa ảo tưởng và thực tế. Cái danh xưng tự phong “Triết gia số 1 châu Á” hay “người khổng lồ”, “người danh tài” mà Đức luôn miệng rêu rao, tự nhận, thực chất chỉ là một màn kịch vụng về của sự hoang tưởng. Đó là một kiểu “hồn nhiên” đến nực cười, giống như kẻ tự khoác lên mình chiếc áo hoàng bào quá khổ, rồi đứng trước gương tự vái lạy chính mình trong những cơn lên đồng tự mãn.

NGƯỜI XƯA NAY MẤY TUỔI CÒN CONG KHÔNG CHÂN MÀY – Trần Trung Tá



Bạn nói thơ tôi buồn...Tôi biết nói gì hơn?  Đưa cho bạn, bạn đọc, buồn thơ, hay buồn mình?
 
Mà, nếu bạn làm thinh thì tôi làm sao nhỉ?  Hay chỉ nói:  Thôi kệ, làm được thơ là Hay!
 
Hay... nghĩa là bóng mây / bay qua thềm mưa rớt?  Xưa, nói mưa-ba-hột, nay nói mưa-bóng-mây!
 
Tôi ngửa hai bàn tay / hứng mưa, thèm nhỏ lại / giống như hồi lên bảy, giống cái thuở lên mười...
 
Đi học về thật vui... không màng quần áo ướt, có mưa chơi là được / vui suốt con đường về...
 
Hồi đó không nghĩ chi / đến trận đòn "ai biểu".  Hồi đó, nhỏ, chỉ hiểu... mưa là vì có mây!
 
*
Tôi úp mặt vào tay... khi không mà mình lớn... mình nhớ ai hàng xóm bỏ mình đi sang sông!
 
Mình, chàng trai lông bông, rồi thì mình vào lính.  Đạn bắn không ai tránh / vì đạn bắn... tránh người...
 
Mình qua tuổi lên mười.  Mình Hai Mươi, mình lớn... Dòng sông cứ cuồn cuộn / và dòng đời trôi theo...
 
Tự dưng có một chiều / mình ngồi trong rào kẽm... hỏi sao viên đạn xém / trúng mình để bay xa?
 
Tự dưng chữ Thái Hòa / viết ràn rụa nước mắt... Ai qua sông, mái tóc / còn bay bay trong mơ!
 
Tự dưng có ai ngờ, mình làm thơ buồn bả.  Bạn đọc, không nói quá: "Thơ mày không có Hay!".
 
Con sông thành sông mây.  Biển rừng trời sương khói...  Người xưa nay mấy tuổi / còn cong không chân mày?
 
Người-xưa-nay-mấy-tuổi-còn-cong-không-chân-mày?
 
                                                                                  Trần Trung Tá

PHÍA BAN MAI, VỚI THÁNG MƯỜI HAI – Thơ Tịnh Bình


   

       PHÍA BAN MAI

Đành rằng mưa hết bão tan
Đành rằng chút nắng ửng vàng mới lên
Qua rồi mưa nắng chông chênh
Sao chưa nghe thấy rộng thênh cõi lòng
 
Còn mong cây lúa vàng bông
Mùa no ấm với ngày đông đang về
Cánh đồng giáp hạt nói mê
Chim chiều lả cánh rủ rê đường trời
 
Qua rồi cay đắng đầy vơi
Mọc lên những tiếng nói cười thiết tha
Đời quê tình đất đơm hoa
Đôi bàn tay nhỏ bao la tấm lòng
 
Chim kêu rộn giữa bầu không
Ban mai nắng nhuộm để nồng nàn tôi...

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

“CON CHÓ CỦA TĂNG THANH HÀ ĐÃ CHẾT”! - Lưu Nhi Dũ

Là tựa đề của nhiều bài báo viết về số phận hẩm hiu - chú chó của Tăng Thanh Hà qua đời mà nhiều báo đăng mấy hôm nay. Và ngay lập tức ca sĩ Lệ Quyên chơi bản bolero mùi mẫn khóc thương chú cún này!  


Nghĩ cũng lạ, rất lạ, số phận của một bộ trưởng một bộ cực kỳ quan trọng trong thời kỳ chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới mà chả ai quan tâm. Báo chí đưa lên rồi rút xuống, rút xuống rồi lại đưa lên, nhưng thua xa cái tin giựt gân “Con chó của Tăng Thanh Hà đã chết!”.
 
Và cũng lạ, có báo đưa tin chó chết; chia buồn cùng Tăng Thanh Hà làm như nhà người ta có chuyện khó, rồi cảm thấy mắc cỡ lại rút xuống! Thiệt chó má!

HUYẾT DỤ - Bài viết của Khánh Ly, Tri Thư Đạt Lễ



“Khóm lăng khóm huệ nên hàng
 Cúc hoa nấu hoàng lễ khắp ngoài sân
 Màn trướng tán lục tần vần
 Huyết dụ áo lía để chân đứng bầy.”
                        (Phùng Khắc Khoan)
 
Huyết dụ, hay còn gọi là phát dụ, thiết thụ, long huyết,... tên khoa học Cordyline Terminalis Kunth, vốn là cây thân thảo lâu năm, cao chừng một đến hai thước, thân mảnh có nhiều vết sẹo lá rụng. Lá mọc tập trung ở ngọn, hình lưỡi kiếm, dày và dài, có loại đỏ tía cả hai mặt, cũng có loại một mặt đỏ, một mặt xanh. Hoa màu trắng pha tím, nhỏ li ti, quả tròn và mọng. Cây huyết dụ thường mọc hoang khắp các vùng quê Việt Nam.
 

NGƯỜI CÓ CHỨC QUAN CAO NHẤT TRONG THỜI CHỐNG MÔNG NGUYÊN - Bài viết của Việt Dũng Vũ



Người có chức quan cao nhất trong thời chống Mông Nguyên không phải là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mà là ông Trần Quang Khải.
Trần Quang Khải là con vua Trần Cảnh, em trai vua Trần Hoảng, chú vua Trần Khâm. Chức tước của ông là: Thái Sư Thượng Tướng Quân Chiêu Minh Đại Vương.
Đại Vương là tước vị cao nhất trong hệ thống quý tộc.
Thái Sư là quan đứng đầu ban văn.
Thượng Tướng Quân là quan đứng đầu ban võ.
Nói chung trong triều đình thì ông Trần Quang Khải là to nhất rồi, chỉ dưới vua mà thôi.
 

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI - Mạnh Kim



Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió”, nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng.
Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway).

Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.
Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt.  Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”.

So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc.
Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”.
Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ.
Họ nhảy múa với ngôn ngữ.
Họ thăng hoa với ngôn ngữ.
Họ bay bổng với ngôn ngữ.

BAO LA, BÁT NGÁT HAY LÀ MÊNH MÔNG... – Thơ Phan Quỳ


   

Lá vẫn xanh màu ngoài kia muôn thuở.
Tình vẫn đầy như buổi nọ ban sơ.
Mà da bỗng nhăn, chân yếu, mắt mờ.
Lòng thầm trách thời gian ôi nghiệt ngã.
 
Nắng vẫn lên một màu vàng óng ả
Mấy tơ trời vương vấn giữa cành si.
Chích bông ơi vui bước nhảy nhót gì
Có hay chăng một tâm tình bên cửa?
 
Người đứng lặng giữa muôn trùng sóng vỗ
Trong thinh không như biển cả vọng về.
Trần gian nầy dẫu thôi hết đam mê
Vẫn lộng lẫy một vùng trời ký ức.
 
Có ồn ào buồn vui cùng nước mắt
Có lặng im hờn dỗi cả trời khuya
Có sao đêm nhè nhẹ tiễn chân đi
Có sương sớm trên mắt người chờ đợi.
 
Người hay chăng, nhớ thương là vời vợi
Là phố phường hoang vắng mãi chen nhau
Là tháng ba cùng tháng bảy mưa ngâu
Là mắt lệ rưng hoài trên mi mỏi.
 
Là tình đẹp nên tình nồng không tuổi
Là tay buồn đưa mãi giữa trời không
Là bao la, hay bát ngát, mênh mông
Là ngôn ngữ chẳng bao giờ nói hết
 
Là bước khẽ giữa ngày thu diễm tuyệt
Là lắng nghe trong im ắng vô cùng
Chuyện đất trời xanh biếc những tình chung.
 
                                                      Phan Quỳ