Ủy
ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control
and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonexia. Sau này
Iran thay Canada
Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày
30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba-Lan đang ở đó. Họ đại diện
cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba-Lan là
thành viêc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973
bên cạnh Ba-Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định
Paris ICCS {3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều
câu chuyện thú vị.
Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng tư 1975, máy
bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên
cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được
các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát?. Ông bán phở ở gần khách sạn
Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ
quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.
Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh
lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các chấp nhận. Năm 1954,
Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn
Đô là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau
vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru-Hồ
Chí Minh sứt mẻ). Ba-Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho
phe cộng sản.
Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao
gồm Canada, Indonexia, Hungary và Ba-Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn
thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi là đệ từ ruột của Mỹ.
Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba-Lan trong
chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến
là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.
Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong
các ủy ban quốc tế về Việt Nam?
Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô
sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này
cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân
không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba-Lan giữ được tiếng
nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng
giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào
tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba-Lan trong lòng nhà nước XHCN,
sát biên giới Liên Xô.
Ở Hungary thì khác. 85% nông dân phải vào Hợp tác xã,
nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt
vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương
tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary
không hề gay gắt như ở Ba-Lan.
Ở Ba-Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic
được coi là quốc đạo.) Ở Hungary ngược lại có nhiều giòng đạo: Catholic,
Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh
hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.
Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản
Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của
nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar
sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần
trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.
Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc,
tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại
đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát
triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác.
Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc
phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các
quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với
tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở
nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George
Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được
học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận
dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.
Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du
khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc
giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.
Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu
khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực
tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn
trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.
Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương
về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng
cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat
để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm
được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy
rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối
năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã
nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả
hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất
nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các
chuyển biến ở Ba-Lan và Hungary.
Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân
và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong
những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của
Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình.
Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giải bày với nhau.
Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ
theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba-Lan
(đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa
một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân
chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên
tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.
Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng,
nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã
không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng
PIS ở Ba-lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.
Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện
ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị
Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký
bầu cử ở quê nhà.
Tất nhiên cả Ba-Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều
khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng
hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những
kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.
Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.
Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những
binh sĩ người Ba-Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.
---
[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến”
Tho-nx.github.io
[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954
(International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan
{3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973
(International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba
Lan, Hungary và Indonexia. Sau này Iran thay Canada
Tho Nguyen
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét