Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến
và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới:
Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch
sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một
nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành
tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ.
Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng
không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng
thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
Với tôi, đó là sông Bồ quê Cha và sông Hương xứ Huế;
nơi tôi từng bước trưởng thành mở rộng trí óc và nhân rộng hướng đời.
Tôi đã từng dầm mình trong nước sông Bồ để thương, từng
vốc nước sông Hương để nhớ. Sông Bồ đục trong theo mùa, chở phù sa qua những
bãi bờ Nam Thanh, An Thuận, Hương Cần, Liễu Cốc Hạ, Cổ Lão, Dương Sơn… sông
Hương thành Huế của tôi xanh một màu gần như hư ảo, đi ngang kinh thành mà vẫn
giữ dáng thong dong của một dòng sông biết mình đẹp.
Sông Bồ để vớt om.
Sông Hương để thả om.
Răng lạ rứa hè?
Chỉ bốn tiếng thôi mà nghe đã ra giọng Huế. “Răng lại
rứa?” không hẳn chỉ là “Why is that?”, “Why so?” hay “Why did that happen?”.
Trong câu hỏi ấy còn có chút ngạc nhiên, chút trách yêu, chút ngậm ngùi và cả một
nụ cười rất nhẹ. Người Huế hỏi mà như không cần trả lời; bởi đôi khi câu trả lời
đã nằm sẵn trong giọng nói.
Cũng như “Thả Om”: nghe qua tưởng chỉ là một động tác
bình thường, nhưng bước vào thế giới Huế, nó lại mở ra cả một miền văn hóa.
Om là chiếc nồi đất nhỏ, thường dùng để nấu cơm, nấu
cháo, kho cá. Một vật dụng quê mùa, khiêm nhường, quanh năm nằm bên bếp lửa. Om
không quý như đồ ngự dụng, không sang như chén kiểu, không được đặt trong tủ
kính để người đời ngắm nghía. Nhưng chính chiếc om đất ấy đã nuôi sống biết bao
mái nhà, giữ hơi ấm cho biết bao phận người.
Thả om, theo nghĩa đen, là buông chiếc om xuống nước.
Nhưng người Huế có tài làm cho một việc nhỏ trở thành
một câu chuyện dài; đem cái bình thường phủ lên một lớp sương huyền thoại, để
khi sương tan rồi, lòng người vẫn còn vương vấn.
Chiều nay, 25 - 8 - 2026, chúng tôi được vợ chồng bạn
Vinh và Tôn Nữ Cẩm Tú mời họp mặt ở “THẢ OM VIÊN” (THA OM GARDEN) 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế. Cụm từ hay nhóm
chữ giới thiệu tên riêng và địa chỉ này là do Trí Tuệ Nhân Tạo AI cung cấp khi
tôi lạc đường và hỏi Chat GPT đó nhé.
Một buổi chiều “Thả Om” không bị trôi mất chi cả mà được
vớt lại cả hàng chục món ăn Huế Cột Cờ toàn ròn do chủ nhân biến tấu tài hoa từ
sản vật địa phương và cây trái trong vườn.
Cuộc họp mặt đã thú vị; tinh thần Huế Thả Om lại càng
thú vị hơn.
Theo giai thoại lưu truyền ở vùng Kim Long mà tôi được
nghe chàng Bá Vinh một nghệ nhân tài hoa và Một Nửa Bên Tê của chàng là nàng Cẩm
Tú ; một Tôn Nữ vắng bóng Hoàng Thành kể lại, chuyện xảy ra vào thời vương triều
Nguyễn đã thoái trào dưới bóng chế độ thực dân Pháp.
Thuở ấy, nhiều gia đình hoàng phái không còn quyền thế
và sản nghiệp như xưa. Cung điện đã xa, bổng lộc không còn, nhưng phong thái
vương giả vẫn chưa dễ gì rời khỏi nếp sống. Nhà có thể nghèo, áo có thể cũ, bữa
ăn có thể đạm bạc, nhưng cái “lề” thì vẫn phải giữ. Giấy đã rách mà đường gấp vẫn
còn nguyên.
Một buổi chiều Rằm tháng Bảy, có vị vương tôn ở miệt
Kim Long, trong nhà chỉ còn chút gạo đủ nấu một om cháo loãng. Khi trời nhá
nhem, “Mệ” mang chiếc om xuống bến sông Hương rửa. Chẳng may, một người hàng
xóm có phần tọc mạch đi tới, cất tiếng hỏi:
“Mệ đem om chi xuống rứa?”
Không muốn người ta nhìn thấy đáy om, càng không muốn
ai biết bữa chiều của mình chỉ có một chút cháo nghèo, Mệ không phân bua, cũng
chẳng than thở. Mệ chỉ lặng lẽ buông tay.
Chiếc om đất rời khỏi bàn tay, chạm mặt nước rồi chầm
chậm trôi theo dòng sông.
Một gia sản cuối cùng đã được thả đi để giữ lại một điều
không thể cầm nắm: lòng tự trọng.
Chuyện thật đến đâu, chẳng ai dám quả quyết. Giai thoại
vốn không phải là sử ký. Nhưng có những câu chuyện không cần đúng từng chi tiết
mà vẫn đúng đến tận đáy tâm hồn của một vùng đất. “Thả Om” là một câu chuyện
như thế.
Trong khoảnh khắc ấy, cái nghèo được giấu kín, thể diện
được giữ nguyên, còn nỗi buồn thì gửi lại cho sông Hương. Đó là một dáng vẻ vừa
đáng thương, vừa đáng kính; vừa kiêu hãnh, vừa ngậm ngùi. Có chút phù hoa của một
thời đã khuất, nhưng cũng có khí tiết của người không muốn đem cảnh ngộ riêng
mình làm phiền đôi mắt thế gian.
Người ngoài có thể cho rằng đó là sĩ diện. Người Huế lại
hiểu đó là lòng tự trọng. Giữa sĩ diện và tự trọng đôi khi chỉ cách nhau một
làn nước mỏng. Sĩ diện là giữ cái nhìn của người khác; tự trọng là giữ phẩm giá
trong chính mắt mình. Vị vương tôn nghèo kia có lẽ mang cả hai. Nhưng chính sự
pha trộn không hoàn toàn rạch ròi ấy mới làm nên con người thật, và cũng làm
nên cái “rất Huế”.
Huế xưa sống nhiều bằng uyển ngữ. Nghèo không nói là
nghèo, chỉ bảo “nhà tui còn cực!” Buồn không nói là buồn, chỉ thở dài: “Răng mà
lạ rứa tề!” Thương ai không dễ nói rằng thương, chỉ hỏi một câu: “Đi mô mà lâu
rứa?” Trách ai cũng không nỡ trách thẳng, chỉ buông nhẹ: “Răng ri hè…”
Ngôn ngữ Huế không đi thẳng như đường tên bắn. Nó
quanh co như lối vào nhà vườn, phải qua bình phong, qua hàng chè tàu, qua giàn
hoa giấy rồi mới đến hiên nhà. Người chưa quen dễ thấy cầu kỳ; người đã hiểu mới
hay cái quanh co ấy không hẳn để che giấu, mà để tránh làm đau lòng nhau.
Huế xưa quý sự kín đáo. Nhà giàu không phô của, người
sang không nói mình sang, người đau không muốn ai thấy mình đau. Cái đẹp nằm
sau bức rèm, nỗi buồn nằm dưới vành nón, còn tình yêu đôi khi suốt đời chỉ hiện
ra trong một tiếng “dạ” thật mềm.
Bởi thế, “Thả Om” không chỉ là chuyện một chiếc nồi đất.
Đó còn là một ẩn dụ về cách người Huế ứng xử với sự mất mát: không níu kéo quá ồn
ào, không phô bày vết thương, chỉ âm thầm buông xuống dòng đời.
Nhưng Huế nay đã khác.
Huế hôm nay có phố mới, cầu mới, ánh đèn mới. Tiếng xe
át dần tiếng guốc mộc; những nhà vườn thâm u mở cửa thành quán trà, nhà hàng,
chốn lưu trú. Con cháu hoàng tộc đã bước ra khỏi bóng kinh thành để sống giữa một
xã hội không còn đo phẩm giá bằng tước vị. Người trẻ Huế nói nhanh hơn, đi xa
hơn, mạnh dạn hơn và biết giới thiệu quê mình với thế giới.
Đó là một chuyển động cần thiết. Một thành phố không
thể sống mãi bằng ký ức, cũng như một dòng sông không thể chỉ soi bóng quá khứ
mà không chảy về biển lớn.
Tuy nhiên, giữa nhịp sống mới, Huế đôi khi cũng đang
“thả” đi nhiều thứ: một mái nhà rường, một khu vườn cũ, một giọng nói thanh
tao, một cách thưa gửi có trước có sau, một nếp sống không vội vàng. Có những
thứ mất đi vì thời thế; cũng có những thứ bị đánh đổi quá dễ dàng vì người ta
chưa kịp hiểu giá trị của chúng.
Ngày xưa, người Huế thả chiếc om để giữ lòng tự trọng.
Ngày nay, có khi người ta giữ chiếc om như một món trang trí, nhưng lại vô tình
thả trôi cái hồn đã từng làm cho chiếc om ấy có ý nghĩa.
Cho nên, bảo tồn Huế không phải chỉ là giữ thành
quách, lăng tẩm hay vài căn nhà cổ. Giữ Huế trước hết là giữ một phong cách sống:
biết chậm lại trước cái đẹp, biết kín đáo trước nỗi đau, biết nhường nhau trong
lời nói, biết giữ phẩm giá ngay cả khi cảnh đời sa sút. Huế không chỉ ở trong
di tích. Huế ở trong tiếng “dạ thưa”, trong chén trà mời khách, trong cách đặt
một bình hoa, trong bữa cơm đạm bạc mà vẫn tươm tất, và trong thái độ không lấy
sự giàu nghèo để cân đo con người.
Tên nhà vườn “Thả Om” ở Kim Long vì thế nghe vừa dân
dã, vừa u hoài, lại phảng phất cốt cách của những vương tôn thất thế. Đó không
phải là nỗi hoài cổ muốn quay lui, mà là một lời nhắc dịu dàng: ta có thể bước
tới tương lai, nhưng xin đừng bước nhanh đến nỗi đánh rơi chính mình.
Rằm tháng Bảy, đứng bên sông Hương, tôi chợt nghĩ: chiếc
om năm xưa chắc đã tan thành đất từ lâu. Đất trở về với nước, nước trôi về biển,
còn câu chuyện thì ở lại. Có lẽ đó cũng là một cách phóng đăng không ánh lửa, một
cuộc phóng sinh cho lòng kiêu hãnh và một nghi thức tiễn đưa thời vương giả đã
qua.
Dưới bóng Hoàng Thành, người Tôn Nữ năm xưa có thể đã
khuất. Chàng vương tôn nghèo cũng không còn. Nhưng tiếng “răng lại rứa” vẫn bay
qua hàng cau, giọng “dạ thưa” vẫn còn đâu đó trong những căn nhà vườn Kim Long,
và sông Hương vẫn lặng lẽ chở những điều người Huế không nói thành lời.
Tôi trở về, không tìm lại chiếc om đã mất.
Tôi chỉ muốn đứng bên dòng sông cũ, thả xuống nước một
chút phù hoa, một chút hơn thua, một chút bụi đường gần nửa thế kỷ xa quê. Rồi
cúi xuống vốc một ngụm sông Hương, nghe sông Bồ vọng lại trong lòng.
Sông Bồ để vớt om
như tâm tưởng vớt lại quê nhà.
Sông Hương để thả om,
như tâm lý bù
thả đi thế sự.
Và Huế, sau bao nhiêu dâu bể, vẫn là Huế:
Nghèo mà không hèn,
buồn mà không lụy,
đẹp mà không phô,
thương mà không nói hết.
Chỉ khẽ hỏi đời một tiếng:
“Răng lại rứa…”
Rồi mỉm cười, buông tay, thả cả chiếc om và chính bóng
mình vào dòng nước hư không.
Thả chiếc om và bóng mình theo nước, mà giữ cả quê
hương ở lại trong lòng.
Trần Kiêm Đoàn
Huế mùa Vu Lan 2026

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét