BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

Mùi ấy bốc lên từ vài chữ quen thuộc: thu hồi, xem xét trách nhiệm pháp lý, lật sử, bôi đen, khẩu vị phương Tây, cách mạng màu, dư luận bức xúc… Ban đầu chỉ là những câu chữ, thở than, bức xúc của một ai đó trên mạng. Rồi những chữ này hưởng ứng lẫn nhau, lêng keng thành tiếng kẻng. Tiếng kẻng vang lên, và một cuốn sách được chuyển từ bàn đọc chuyển sang bàn họp, nhà văn phải chứng minh rằng mình vô hại, vô tình, vô ý…nhà xuất bản thành một mắt xích có thể bị quy trách nhiệm. Chưa cần ai tuyên án, mọi người đã biết nên đứng xa những kẻ liên can ở khoảng cách bao nhiêu.
Bi kịch của đời sống văn hóa Việt Nam không nằm ở chỗ người ta tranh cãi nhau về một vấn đề nào đó, mà là sự kết án chính trị nhanh chóng và dễ dàng với một tác phẩm văn chương hay truyền cảm hứng. Trước kia cũng từng có những kết án chính trị như thế, dưới thời Nhân Văn Giai Phẩm nhưng đó là sự kết án được chỉ đạo từ những người lãnh đạo văn nghệ. Còn lần này, đó là sự tấn công của đám đông, các "hồng vệ binh" của kỷ nguyên công nghệ số.

Có thể coi Bảo Ninh như là một Lão Xá của câu chuyện này khi ông là một trong những nhà văn Việt Nam nổi tiếng nhất của thế hệ ông. Cái mà tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” gây tranh cãi là việc nó không chịu để người lính đứng yên trên lễ đài. Bảo Ninh trả người lính về cho đời sống con người, nơi có sợ hãi, ham muốn, ký ức không yên. Tác phẩm không phủ nhận chiến thắng vĩ đại của dân tộc; nó chỉ bắt chiến thắng phải sống chung với cái giá đắt mà nó phải trả: đó là những đêm mất ngủ, là những ký ức đau xót, là sự đánh mất tâm hồn trong trắng của những con người đi qua chiến tranh.
Với một dân tộc tự tin với ký ức của mình, điều ấy sẽ được coi là bình thường. Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong tâm lý học có hẳn một chuyên ngành “tâm lý học hậu sang chấn” đó sao?
Nhưng với những ai vẫn mang một ký ức bất an, cần phải có một hình bóng, một phiên bản rõ ràng, rành mạch, không một vết xước của ký ức để họ soi vào thì sự vinh danh cuốn sách ấy khiến họ cảm thấy bực bội như thể có ai mới quệt một vết bùn lên đôi giày vừa đánh bóng trước lễ duyệt binh.
Và họ xuất hiện. Tứ Nhân Bang: Tuấn Can Toàn Nghĩa. Thêm nhiều người khác như Thăng Long TV, Én Bạc TV… Họ thảng thốt hô lớn: nguy cơ với Đảng, lật sử, diễn biến hòa bình, cách mạng màu, “giặc” leo cao, leo sâu trong hệ thống. Khác với cách mạng Văn hóa Trung Quốc, các “hồng vệ binh” trên mặt trận văn hóa của Việt Nam ở thế kỷ 21 không phải là những đứa trẻ. Họ đều là các trung niên ngoài tuổi 40, hay các lão niên ở tuổi 70.
Những người gõ kẻng này không cần thắng trong địa hạt chuyên môn. Nếu bàn về văn chương thì phải đi vào nhân vật Kiên, vào thời gian tự sự đứt gãy, vào những cơn ám ảnh hậu chiến: những câu hỏi chậm, nhiều tầng, đòi hỏi sự phân tích thấu đáo, và trước hết là sự hiểu tác phẩm- thứ mà họ không có. Nhưng tiếng kẻng không cần những điều đó. Chỉ cần dán những cái nhãn cho tác phẩm là “bôi đen”, “lật sử”, hợp “khẩu vị phương Tây”, việc đọc sách đã trở thành việc chọn chiến tuyến.
Và văn chương luôn yếu thế trong những phiên tòa như vậy, bởi nó nói bằng vùng xám, bằng thân phận, bằng những con người không chịu đứng tròn vai; còn tiếng kẻng nói bằng vài danh từ lớn mà không ai muốn bị xem là đứng ngược lại: Tổ quốc, liệt sĩ, quân đội, nhân dân, lịch sử. Một bên cần phải đọc, phải đặt mình vào nhân vật với sự thấu cảm. Một bên chỉ cần viện tới đạo đức và tự cho rằng mình là kể nắm đạo đức của cộng đồng, để đưa ra phán xét.
Sau Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, có một khoảng lặng ngắn ngủi trước khi Tứ Nhân Bang và đồng đội của họ chuyển sang Chuyện với Thanh. Lúc này, địa hạt đã chuyển từ chiến tranh sang Hồ Chí Minh- vùng còn dễ bốc cháy hơn, vì mọi sai sót về dữ kiện hay giọng điệu đều có thể bị đọc thành sự sai sót về lòng thành kính.
Cuốn sách có thể sai, có thể cẩu thả, đáng bị phê bình nặng; không có lý do gì để nó được miễn trách nhiệm về tư liệu. Nhưng điều đáng nhìn là bước trượt: từ “sách này có những chi tiết nào chưa chính xác?” sang “ai để nó lọt ra? Động cơ của viết sách, của in sách là gì”. Khi câu hỏi sau thắng, cuốn sách không còn là sản phẩm trí tuệ cần tranh luận, mà thành vật chứng về sự buông lỏng, và sau lưng tác giả hiện ra biên tập viên, nhà xuất bản, cơ quan chủ quản, giấy phép, quy trình.
Đây là lúc tự kiểm duyệt xảy ra. Biên tập viên đọc bản thảo bằng con mắt người dự báo tai nạn. Người viết bỏ một câu văn, một đoạn văn không phải vì nó sai, mà vì nó có thể khiến anh mất nhiều tháng để giải thích cho những kẻ quy kết.
Đề thi tốt nghiệp THPT môn Văn năm 2026 với câu hỏi “Steve Jobs Việt Nam” lại cho thấy cái khí hậu ngột ngạt và sự kiểm duyệt của đám đông ấy không chỉ dừng ở lĩnh vực xuất bản mà còn chạm vào giáo dục. Có nhiều chuyên gia đã nêu ra những hạn chế của đề thi này, nhất là trong câu hỏi về Steve Jobs và họ có những lý do hợp lý cho điều đó. Chẳng hạn như biểu tượng Steve Jobs khá thành thị, xa với nhiều học sinh ngoài các trung tâm lớn, và đề thi có phần quá giản lược khi nén cả câu chuyện sáng tạo, thể chế, giáo dục, văn hóa thử sai, thị trường vốn, quyền sở hữu trí tuệ vào một bài nghị luận xã hội. Nhưng ở Việt Nam, đề thi quốc gia hiếm khi chỉ là đề thi. Nó là văn bản chính trị mềm, một dấu hiệu mà người ta sẽ “đọc” để đoán xem nhà trường muốn học sinh hướng đến những giá trị gì, những hệ biểu tượng nào.
Vì vậy, một đề thi hơi lạ dễ bị đọc thành tín hiệu. Từ “làm thế nào để có các Steve Job Việt Nam?”, câu hỏi sẽ trượt sang “vì sao lại là Steve Jobs người Mỹ”, như thế có là vọng Tây, mơ Mỹ không? Từ phê bình đề thi trên góc độ kỹ thuật trở thành các câu hỏi có tính quy kết như nhà trường đang đào tạo kiểu công dân nào.
Có thể một số chất vấn đặt ra là hợp lý. Nhưng trong bầu khí đã quen đánh hơi lệch chuẩn, bài học mà người ra đề có thể rút ra lại giản dị hơn nhiều: lần sau chọn những chủ đề ít gai hơn. Cứ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng đưa ra mà làm, như các đề văn quen thuộc của 50 năm qua ở Việt Nam. Cứ tròn, cứ lành, cứ đúng theo kiểu ai cũng gật. Để rồi nền giáo dục sẽ không tự làm nó mờ nhạt bằng một thay đổi gây sốc nào, mà bằng sự khôn ngoan mệt mỏi của những người có năng lực nhưng không muốn thành tâm điểm, tránh những cơn “lên đồng”, “đấu tố” của đám đông”.
Điểm then chốt nằm ở đây: những người gõ kẻng không tạo ra toàn bộ cơ chế, họ chỉ kích hoạt nó. Họ thành công vì các thiết chế đã mang sẵn nỗi sợ. Nhà xuất bản sợ trách nhiệm, trường học sợ bị soi, báo chí sợ đi ngược đám đông, cơ quan quản lý sợ bị nói là buông lỏng, mạng xã hội cần kẻ thù để có tương tác, người viết sợ mất thời gian, mất danh dự, mất yên ổn. Không cần âm mưu lớn, không cần một tổng chỉ huy ngồi trong bóng tối.
Cơ chế này hoạt động được chính vì mỗi bên đều hiểu rõ phần lợi ích và điều khiến mình sợ. Khi một tiếng kẻng vang lên đủ to, các nỗi sợ ấy tự tìm đến nhau mà không ai phải chịu trách nhiệm về toàn bộ dây chuyền. Người gõ kẻng nhận được sự chú ý của công chúng và cảm giác rằng mình đấu tranh cho chính nghĩa. Báo chí có thêm câu chuyện “dư luận” làm quà. Cơ quan quản lý có lý do để rà soát. Những kẻ cực đoan có dịp “đánh” những ai mà họ ghét, nhất là từ trong bóng tôi. Và những người thận trọng thì chọn cách im lặng.
Để rồi từ đó hình thành một thị trường, nơi lập trường chính trị trở thành một thứ vốn liếng và sự phẫn nộ trở thành một cái nghề, thứ câu “like”, tạo trend và tạo ra một danh tiếng (hay tai tiếng) ảo cho những kẻ to mồm nhất, độc địa nhất. Ai phát hiện “vấn đề” sớm thì có vẻ mẫn cảm, ai đòi xử lý mạnh thì có vẻ trách nhiệm; còn ai đọc kỹ, phân biệt đúng sai theo mức độ, nhắc đến quyền hư cấu, tự do học thuật, phương pháp phê bình, lại dễ bị đẩy vào thế phải đi thanh minh: rằng tôi không phải là bạn bè của Bảo Ninh, là đàn em của Thành Nam, rằng tôi không phản Đảng, nói xấu quân đội hay Bác Hồ… Món hàng bán chạy nhất là sự chắc chắn về đạo đức được đóng gói sẵn: rẻ, nhanh, nơi người ta không cần phải đọc gì vẫn cảm thấy là mình đứng về lẽ phải, hay đúng hơn, là mình đã mua được cái gọi là “lẽ phải” với một cái giá vô cùng rẻ.
Trong tương lai gần, có lẽ các cơ quan Tuyên giáo sẽ rất rảnh việc, vì họ không cần đến những lệnh cấm như thời cũ. Các lệnh cấm này sẽ mềm hơn, rải rác hơn, khó gọi tên hơn. Sau vài vụ, mỗi người tự vẽ bản đồ vùng cấm của mình. Chiến tranh. Hồ Chí Minh. VNCH. Cải cách ruộng đất. Vùng miền. Biên giới. Tôn giáo. Dân tộc. Rồi đến sách giáo khoa, đề thi, phim ảnh, triển lãm, hội thảo, bài giảng… tất cả đều phải kiểm duyệt và tự kiểm duyệt ngày càng kỹ hơn.
Có thể sẽ có phản ứng ngược. Độc giả không phải lúc nào cũng để mình bị dắt mũi. Người ta càng đánh Nỗi buồn chiến tranh thì có khi lại càng làm nhiều người muốn đọc Bảo Ninh. Càng nhân danh bảo vệ văn hóa bằng lời lẽ thiếu văn hóa, chửi bới và miệt thị thì lại càng khiến một bộ phận công chúng khinh bỉ. Nhưng sự khinh bỉ ấy thường rút vào phòng nhỏ, vào những nhóm đọc, những cuộc trò chuyện riêng, những câu mỉa mai kín đáo, nơi người ta vẫn hiểu, vẫn nhớ, vẫn giữ một chuẩn thẩm mỹ khác, nhưng ngày càng ít muốn tham gia vào cái chợ chung ồn ào. Không gian công cộng vì thế vẫn đông, vẫn nóng, vẫn đầy tiếng nói, nhưng những tiếng nói nghiêm túc và hướng thiện sẽ ngày càng lùi dần vào trong.
Cái mất lớn nhất không phải là một cuốn sách bị thu hồi, một tác phẩm bị loại khỏi danh sách trao giải, một đề thi bị người ta chê trách hay hay một tác giả bị dán dấu X trên những tấm hình. Cái mất lớn hơn là năng lực nghĩ, nói và viết công khai. Khi người viết phải viết nhạt hơn để khỏi phiền, người trả lời phỏng vấn tránh câu hỏi khó để không bị cắt cúp cho mục đích xấu, người dạy học không dám nhắc tới những vấn đề xã hội trên lớp học, người ra đề thi chọn ngữ liệu nhạt nhẽo, vô hại để khỏi thành tâm điểm, nhà xuất bản né các bản thảo gai góc để khỏi phải giải trình thì đời sống trí tuệ không chết ngay. Nó chỉ thấp dần đi, xám dần đi, mất đi những màu sắc, góc cạnh, những suy nghĩ, cảm xúc thật của con người.
Một đất nước không nghèo đi vì vài kẻ ồn ào đấu tố. Nhưng nó nghèo đi về tri thức, về văn hóa, về quyền con người khi mà mỗi lần một người lẽ ra có thể nói hay viết một điều đáng nói lại chọn một câu vô hại hơn rồi tự nhủ rằng mình chỉ đang hành xử khôn ngoan.
Và một số người khác sẽ chọn ra đi nếu có thể, thay vì để những kẻ đó cứ lảm nhảm, hét vào tai họ những câu vô nghĩa, sợ hãi và cay độc. Cho dù đất nước đang “vươn mình” để bước vào kỷ nguyên tăng trưởng cao và một tương lai đầy hứa hẹn. Và còn một tổn thất khó được tính bằng tiền: vốn xã hội hay niềm tin của con người trong xã hội vào nhau- thứ dựa trên sự tử tế trong cách đối xử giữa người và người.

Để kết thúc, tôi xin mượn vài câu trong bài phát biểu rất hay của TBT - CTN nước Tô Lâm vào ngày 10/6 tại VTV mới đây:

“Sự tử tế là vốn xã hội, là sức mạnh văn hóa, là một phần nền tảng của một quốc gia văn minh. Phát triển sâu sắc và bền vững là làm cho con người được sống trong một xã hội an toàn hơn, nhân ái hơn, công bằng hơn, có kỷ cương, có niềm tin, có cơ hội vươn lên và có trách nhiệm với nhau.
Một xã hội thiếu niềm tin thì chi phí phát triển rất lớn. Khi cái đúng được bảo vệ, cái tốt được cổ vũ, người yếu thế không bị bỏ lại phía sau, người dám làm việc tốt không cảm thấy cô đơn, thì niềm tin xã hội được củng cố. Mà niềm tin chính là một nguồn lực rất quan trọng của phát triển đất nước.”
 
Bài viết của Linh Hoàng Vũ

Không có nhận xét nào: