BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

THƠ VẬN VÀO NGƯỜI - Lê Duy Đoàn

Ngoài một số bài viết như ĐI TÌM NHÀNH HOA THẠCH THẢO, BÚN BÒ HUẾ CHẲNG CÒN NHƯ XƯA, ....  đã đăng tải, hoạ sĩ Lê Duy Đoàn cũng gửi email chia sẻ thêm cùng chúng tôi một số bài viết của anh.  Xin giới thiệu bài viết mới của Lê Duy Đoàn

                        
                                 Tác giả Lê Duy Đoàn

THƠ VẬN VÀO NGƯỜI  -  Lê Duy Đoàn

Phan lãng tử và Trần tu sĩ là đôi bạn chí thân, ăn một mâm nằm một chiếu từ khi còn là học sinh ở Huế trước năm 75. Họ là những học sinh giỏi, năng động, tự lập và có nhiều hoạt động trong sáng và tích cực trong xã hội . Dù một người là kẻ tu hành đang mặc áo nâu sòng ở chùa Vạn Phước và một người còn nhỏ mà có máu lang bạt kỳ hồ , họ vẫn rất thân thiết. Kẻ tu hành vẫn mô Phật và nói lời đạo hạnh nhưng khi nghe chàng lãng tử rủ lên đồi nhậu nhẹt thì kẻ tu hành cũng sẳn sàng “ngụy trang kiểu Úc” ngồi sau xe gắn máy Goebel lên đó rỉ rả nhậu chơi quên đời.

 Những người bạn của Chú Thân ( kẻ tu hành) hay gọi đùa chú là Đại Đức Thích Đủ Thứ . Chú chẳng giận mà còn vui. Khi chú lạy tạ từ Thầy Trú trì chùa để vào Sài gòn, chú cũng thật thà nói với Thầy là chú vô chùa để trốn lính, bây giờ hết duyên với Đạo nên chú xin phép ra đời. Quả nhiên, sau 75, Chú Thân cởi áo tu hành thỏng tay vào chợ, Chú thích đủ thứ thật

 Lãng tử họ Phan hồi đó lấy nhà liêu của chùa làm nơi ở trọ và cơm chùa làm bửa độ nhật. Sau 75, gia đình Phan khổ sở nhiều bề vì chuyện lý lịch có cha làm cảnh sát. Đồ đạt trong nhà bán dần ăn cũng hết, cả gia đình quá bức bách phài dắt díu nhau vào tận núi rừng Tân Uyên ở Bình Dương tìm kế sinh nhai. Lãng tử kể rằng chỉ riêng mình chàng đã triệt hạ hết mấy khu rừng để đốt làm than chở xuống Sài gòn bán vì lúc đó chất đốt vô cùng khan hiếm. Cũng là chàng đã “ăn”hết mấy cây số đường rây xe lửa đi ngang địa phận Tân Uyên, nhân lúc hổn quan, hổn quân nên chưa ai quản lý. Trong vùng đèo heo hút gió đó, có một quán cà phê. Cô chủ quán là một người đẹp mình dây. Lãng tử thường đóng đinh ở đó. Những người phóng túng ngang tàng theo thói Lương Sơn Bạc, mở lời sỗ sàng chòng ghẹo hay tìm cách sờ soạng cô chủ quán đều bị lãng tử vung quyền vung cước trị thẳng tay. Đôi lúc chàng cũng bị chúng kéo bè tẩn chàng nên thân như tẩn một cái mền rách nhưng hào khí của chàng làm tim người đẹp rung rinh, thổn thức Tình cảm đơm hoa, kết quả là một đám cưới  vui vẻ của chàng lãng tử cùng cô hàng cà phê với hoa dại, rượu “cuốc lũi”, thịt rừng và rau rán quanh vùng.

 Vào Sài gòn, Chú Thân nương náu ở chùa Vạn Phước ở quận 11 một thời gian, hàng ngày ăn chay niệm Phật . Ra đời không có nghề ngổng chi cả, vả lại chẳng quen biết nhiều nên Chú ở chùa đếm ngày qua tháng lại để chờ thời, xem đất chùa là chốn Ngọa long cương. Thời may, một người nữ đệ tử của chùa Vạn Phước ở Huế trước 75 là người quen thân kết nghĩa chị em với Chú từ trước, đi lễ chùa ngày Tết gặp Chú Thân thì mừng rỡ vô cùng. Hàn huyên tâm sự mới biết bây giờ  Hoàng-tên cô gái- là bí thư Đảng ủy của một quận đang phát triển ở nội thành Sài gòn, đang phụ trách Phó chủ tịch Ủy ban của Quận đó. Thì ra, trước 75 Hoàng đã hoạt động cho phe bên tê mà  Chú Thân đâu có biết. Việc đầu tiên, sau lần gặp gở đó, Hoàng làm giấy chứng nhận Chú Thân là cơ sở cách mạng hoạt động nội thành từ năm 68. “Miệng nhà quan có gan có thép, Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm”. Trạng Quỳnh nhà ta nói như thánh dạy rồi mà! Chẳng ai mất công truy ra coi thử Chú Thân là cách mạng thật hay chì là cách miệng khi bí thư đã ký xác nhận cho Chú như vậy. Thế là bổng dưng Chú thành người có lý lịch với thành tích hơn hẳn những người cách mạng 30 tháng tư. Vào thời điểm đó có những chuyện thật như đùa như vậy. Từ cái lý lịch đẹp như mơ đó cọng thêm một sổ hộ khẩu thành phố lại  có cái ô dù của cô Hoàng, chú đi vào Quận làm tà lọt trong ban Quản lý nhà đất. Những năm sau 75, người Sài gòn bỏ của chạy lấy người, vượt biên đi tìm tự do nườm nượp. Nhà trở thành nhà vắng chủ và do quận quản lý. Chú vào tạm trú trong một căn nhà người ta mới bỏ đi ở khu Cư xá Sĩ quan Chí Hòa. Cả gia đình vượt biên đi lọt hay đã bỏ mạng ngoài khơi không ai biết nhưng họ không trở về nữa nên Chú cứ ở đó. Sau đó một thời gian người ta hợp thức hóa sở hữu nhà cho Chú, thế là chú tay không bắt được cọp, tự dưng không mà sở hữu một căn nhà đầy đủ tiện nghi không tốn một xu .

Thấy Chú đẹp trai, trẻ trung mà chưa có vợ, Hoàng giới thiệu cô em gái con cậu con cô của mình cho Chú. Mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu, Chú cưới cô nàng . May mà Chú gặp nước trong. Có tu có phước là vậy.

Lại nói về Phan lãng tử, anh hùng bán than về Sài gòn hàng tuần bỏ than cho các chành vựa than. Lãng tử cũng nổi tiếng trong giới ve chai nhôm nhựa là một cao thủ “chém ri chặt sắt”. Hồi đó, ở những vùng chiến sự ác liệt, quân đội Cọng Hòa và quân đội Mỹ thường lập những căn cứ dã chiến. Các loại ri sắt phẳng được dùng làm công sự hay hầm tránh bom, đạn pháo, đạn cối ; ri sắt lổ tròn dùng lát cầu đường và bãi đỗ trực thăng. Lãng tử là một người giỏi quyền biến nên tìm cách tiếp cận với giới chức cầm quyền trong quân đội và các công ty vật tư các tỉnh Đồng nai, Sông Bé ( tên mới của Bình Dương+Bình Phước). Các chú Tư Bường, Tám Tấn, Ba Khiêm, Sáu Hạnh ở Công ty vật tư của 2 tình đó coi Phan như người thân trong gia đình. Chú Hai On giám đốc của sân bay Biên Hòa coi Phan như em út trong nhà. Hồi đó, những người nói trên ký duyệt cho Phan mua hàng trăm tấn ri sắt còn nguyên nước sơn ô liu hay bán mười mấy cái động cơ máy bay reserve của máy bay Skyraider nguyên trong thùng chưa khui, mà chẳng đòi hỏi một chút “lại quả” nào cả. Chỉ cần vài độ nhậu nhiều “tăng” là mấy chú ký ngay trên bàn nhậu. Thời kỳ ấy những người cọng sản còn thật thà chưa biết vơ vét cho đầy túi tham như sau này.

 Từ một anh chạy hiệu trong ban quản lý nhà đất, Chú Thân được đề bạt nhảy qua quản lý các nhà hàng trong quận. Con người lâu nay chay tịnh tưởng quen rồi nay rơi vô môi trường ăn nhậu. Mảnh đất mới là nơi để cho bản năng hoang dã của Chú- lâu nay bị đè nén bởi những qui tắc nghiêm mật của nhà chùa- trổi dậy. Người ta nói, những ông thầy tu bỏ chùa bỏ đạo ra đời thường sa vào sự thái quá của lòng dục. Tham đắm sắc dục như là chuyên đương nhiên nhằm bù đắp cho những ngày chay tịnh” cực chẳng đã” chăng? Luyện công trong những lò bát quái quanh những nhà hàng trên mọi nẻo đường của quận, Chú đã trở thành” độc cô cầu bại” không có đối thủ ngang tầm vì Chú uống bia rượu như uống nước lã, mặt Chú càng uống càng tái chứ chẳng bao giờ say. Như cái lệ thông thường của bợm nhậu, rượu và gái thường đi cặp với nhau như là một công thức. Thế là Chú lại thích thêm một thứ nữa trong bốn món ăn chơi.

 *** 

 Một buổi xế chiều, đang ngồi nhậu trong quán, Chú Thân thấy Phan ngồi trước cabin bên cạnh tài xế xe tải. Xe chở đầy hàng sắt phế liệu. Chú vội vã lấy xe gắn máy rượt theo kêu inh ỏi” dừng xe, dừng xe”. Phan tái mặt, tưởng bị công an gọi. Thông thường mỗi khi công an kêu dừng xe, Phan phải bấm bụng moi tiền ra chi “tiền mãi lộ”, nếu lằng nhằng chúng nó kiếm cớ đưa xe về đồn thì rách việc. Xe dừng. “Thằng quỷ, tau tưởng công an” “Trời ơi, tau tìm mi từ khi vô Sài gòn đến nay, đi mô mà mất tăm mất tích”. Hai người ôm riết nhau giữa đường mừng mừng tủi tủi.

 Phan đưa xe lên kho của cô nàng Tàu Chợ Lớn ở quận 11 là A Tỷ giao hàng. Cân đo đong đếm nhận tiền bạc xong xuôi, Phan lên xe theo Chú Thân về nhà Chú mới chiếm dụng ở Khu cư xá sĩ quan Chí Hòa. Hai người không quên đèo theo một két rượu nhẹ có gas hiệu con cọp trắng và mấy bịch đồ mồi về nhậu.

Phan tâm sự là muốn về Sài gòn sinh sống nhưng kẹt không có hộ khẩu, không có nhà. Ở vùng núi rừng dễ kiếm ăn bằng nghề phá sơn lâm nhưng của rừng ngày cũng cạn dần vì người đến phá ngày càng đông.Hai đứa con trai ngày mỗi lớn cứ lông bông chơi với chim chóc thú rừng, lê la không trường lớp sợ rằng sẽ hư hỏng. Phải đưa gia đình vế Sài gòn sinh sống mới có đường học cho con và đường sống cho gia đình. Chú Thân nói là việc này phải nhờ đến chị Hoàng. Vốn cũng là người quen biết cũ của Phan ở Huế nên chị Hoàng vui vẻ tìm cách giúp ngay. Chị chỉ căn nhà trống hoát vách gạch chưa tô, mái tôn cũ xì dột nát, chưa có cửa nẻo chi cả trong khu cư xá Nguyễn công Trứ ở đưởng 3 tháng 2. Nhà tàng quá nên chưa ai xía phần . Căn nhà trong diện quản lý của phòng Nhà đất ủy ban. Cứ kéo cả nhà về đó ở lì , công an khu vực có hỏi thì nói rằng Phan là bà con của chị Hoàng thì không ai gây khó dễ. Cũng hay!

Đầu thập niên 80, chính quyền thành phố nhận ra chương trình đưa dân đi”vùng kinh tế mới” là một sai lầm lớn. Những viễn ảnh tốt đẹp về những vùng kinh tế mới trù phú theo viễn mơ” bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm” chỉ có trên giấy và thơ. Trong thực tế, chương trình đó không có kết quả như mong đợi. Hàng vạn người dân bị đẩy đi kinh tế mới về lại thành phố sống vạ vật, lây lất khắp nơi. Họ cứ che tạm tăng bạt ni lông ngoài lề các con đường lộ, con hẻm khắp thành phố rồi lang thang kiếm ăn và sinh hoat gia đình, ăn uống, tắm giặt, ngũ nghỉ trong một vuông đất trên lề đường dưới mưa nắng trông rất nhếch nhác, tội nghiệp. Làm sao những người dân chân yếu tay mềm, cậu ấm cô chiêu ở thành phố bị lùa lên những vùng đất hoang hóa bạc màu hay những nơi sỏi đá nhiều hơn đất đai mà sống nổi? Không trường lớp, không chợ búa, không đường sá, trạm xá bệnh viện. Các phương tiện sản xuất, các phương tiện sinh hoạt đều chẳng có gì, họ sống được ngần ấy năm mới là chuyện lạ.

 Sai thì sửa, sai nữa sửa nữa. Chỉ thị 01 của chính quyền thành phố cho phép những người có gốc gác sống ở thành phố, đi “kinh tế mới” trở về đều được cấp lại hộ khẩu mới, miễn sao có xác nhận đầy đủ với chữ ký dấu mộc của ủy ban phường xã nơi từng cư trú ở thành phố, nơi từng ở “vùng kinh tế mới” và nơi tạm trú hiện nay. Đó là cơ hội để Phan làm một cái sổ hộ khẩu cho gia đình thông qua dịch vụ chui làm hộ khẩu thật theo đúng trình tự (nơi đi, nơi đến, nơi về ) của mấy anh công an khu vực phường 26 quận Bình Thạnh. Cũng phải mất hơn bốn tháng Phan mới nhận được sổ hộ khẩu mới toanh, địa chỉ ở Cư xá Thanh Đa. Đương nhiên” có tiền việc ấy mà xong nhỉ”.  Rẽ mà, chỉ một cây. Khi Phan lo chuyển được hộ khẩu về cái nhà chiếm dụng ở khu cư xá Nguyễn công Trứ xong thì vụ việc làm dịch vụ hộ khẩu ở Thanh Đa bị bể. Mấy anh công an làm dịch vụ gian dối bị bắt . Sở công an ra lịnh tịch thâu các sổ hộ khẩu làm chui theo đường dây đó nhưng may là gia đình Phan không bị văng miễng nên cả gia đình vẫn đường hoàng sống ở đó mãi về sau.

 ***                                                               
 Khi tôi đưa gia đình vào sinh sống ở Sài gòn vào mùa hè năm 1983, tôi gặp lại hai người. Họ vẫn gọi tôi thân mật là anh trưởng như thuở còn ở Huế.

 Phan cao dong dỏng, nước da ngâm, vai xuôi, người xương xương trông rắn chắc, khỏe mạnh. Mặt xương, gò má cao, miệng hơi hô, lộ hầu. Khi nói, khi hát, cục Adam nơi cổ của Phan chạy lên chạy xuống nhìn rất vui.  Phan có giọng cổ khàn đục. Khi hát, khi diễn ngâm thơ, mặt Phan ngước lên, mắt lim dim mơ màng theo lời hát, lời thơ rất là say sưa, cuốn hút.

 Chú Thân người tầm thước, khi còn tu thì ốm nhom, lúc ra đời làm quản lý các nhà hàng của quận, người Chú đẩy đà ra, mập bụng. Nước da trắng, mắt tinh anh ướt át đa tình, giọng vang. Chú hát hay, đàn giỏi, ngâm thơ theo làn điệu Huế thì rất truyền cảm. Mã đẹp trai, giọng Huế nói ngọt mà khéo nên nhiều cô mê mẩn đeo theo Chú.  Người ta thương mình, mình không thương lại thì tội nghiệp người ta. Thế là hình thành một dây một chuổi ân tình trao qua đáp lại nên Chú có nhiều mối quan hệ trai gái ngoài luồng.

 Phan cũng chẳng kém sư phụ một tí nào. Người phóng khoáng tánh ngang tàng nghĩa hiệp nên cũng lắm cô nàng đeo theo. Bỏ thì thương, vương thì nặng. Thôi chịu nặng một chút cũng được thôi!.

  Tánh khí như vậy nên hai người chơi thân với nhau, đi với nhau như bóng với hình. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu mà.

 ***
 Hai người rất mê nhà thơ Bùi Giáng. Không biết ai đó đưa cho họ bốn câu thơ của họ Bùi,những câu thơ qua giọng ngâm khàn đặc của hai người khi có hơi men bốc lên đầu nghe rất thống khoái, hào sảng. Bốn câu thơ mang theo trong câu chữ những dự cảm một cõi đi về.

             Rồi có lúc như bây giờ lần nữa,
             Một bài ca sẽ chuyển điệu khôn hàn,
             Lời gay cấn đầu thai trong vó ngựa,
             Hồn hóa sinh về núi đá mưa ngàn (1)

  Ngồi trong bàn nhậu, mỗi lần nghe hai người ngâm bốn câu thơ này, tôi thấy rờn rợn, nổi ốc và tưởng tượng ra một vùng núi đá hoang sơ, cây bụi, cỏ dại mọc đầy phủ lên nấm mộ cô liêu. Mưa xối xả, gió thốc hú từng hồi trên sườn núi cheo leo.

  Sau đó là ca khúc “Phúc âm buồn”của nhạc sĩ họ Trịnh: “ Còn bao lâu, cho thân tôi lưu đày chốn đây, Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này. Còn bao lâu cho mây đen tan trên bầu trời, Còn bao lâu tôi xa em, xa anh, xa tôi?”.

  Cũng không lâu! Đang khỏe mạnh uống bia rượu như hủ chìm, Chú Thân thỉnh thoảng thấy đau phía bên phải vùng bụng. Đi siêu âm, xét nghiệm chẩn đoán Chú bị một khối u nhỏ trong gan. Từ khi xét nghiệm, chọc sinh thiết biết là u ác tính,mọi người dấu Chú cứ bảo là không hề gì. Ngoài điều trị theo hương dẩn của bác sĩ bệnh viện uống thuốc tây như ăn cơm bửa, qua xạ trị hóa trị, Chú nghe ai chỉ ngoại khoa thuốc Bắc, thuốc Nam, Chú đều thử tuốt.

  Trong vòng có bốn tháng Chú xuống mười mấy kí, da bọc xương nhưng bụng lại phình to như cái trống. Bệnh đã đến thời xơ gan cổ trướng. Chú đã có thời gian dài tu học ở chùa nên Chú hiểu rất rõ lẽ vô thường, lý vô ngã nên vẫn bình tỉnh đợi ngày” thiên thu xuống trên thân này”. Người ta hay nói:” Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”. Đầu tháng 3,Chú Thân qua đời khi mới 53 tuổi .

 Ngày đưa Chú lên an táng ở chân núi Chứa Chan ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai trời nắng đẹp. Núi Chứa Chan không có cây cổ thụ mà chỉ thấy cây cỏ vừa tầm, dù cao đến 800 mét nhưng nhìn từ xa núi trơ trọi giữa đồng trống thấy hình bè bè như môt nấm mồ vĩ đại.Người theo xe đưa tang khá đông. Đi từ sáng nhưng xe chạy chậm nên đến gần giờ ngọ đoàn xe mới tới nơi. Trên lối đi gập ghềnh khúc khuỷu từ chỗ dừng xe ngoài quốc lộ cho đến huyệt ở gần chân núi, khoảng cách chừng một cây số, nhóm bạn thân tình của Chú, hầu hết là những người Huế hành nghề đắp vỏ xe và buôn bán kim hoàn ở quận 10 và quận 11 nói chuyện rổn rảng. “ Chú Thân đi thế nào cũng rủ một đứa đi theo cho vui”. “ Đứa mô thân với Chú, đi theo Chú là vừa” “ Ở đây có thằng Phan lãng tử là thân với Chú nhất, chắc Chú rủ hắn đi theo quá?” Phan trả lời rắn rỏi “ Rù thì đi chứ sợ chi. Vui”. Những lời đùa không đúng lúc của những người bạn của Chú Thân trong giờ phút sinh ly tử biệt làm nhiều người khó chịu . Lời nói đi vào hư vô
Tôi bỗng nhớ bốn câu thơ của Bùi Giáng ứng vào đúng ngay huyệt mộ dưới chân núi Chứa Chan này. Núi nhiều đá, mưa xói mòn khe rảnh. Vẳng đâu đây lóc cóc vó ngựa dập dồn.

        Lời gay cấn đầu thai trong vó ngựa,
        Hồn hóa sinh về núi đá, mưa ngàn.

  ***                                                    
  Sáu tháng sau.

  Phan đi xe gắn máy một mình lên Thủ Đức để gặp ông Thanh, một chức sắc trong phòng Quản lý đô thị quận Bình Thạnh để nhờ giúp đở giải quyết giấy tờ hợp thức hóa căn nhà Phan mua giấy tay ở  trong hẻm sâu, đường Nguyễn văn Đậu. Ngồi chén chú chén anh với ông Thanh từ chiều đến tối mịt. Phan mới chếnh choáng lên xe ra về.

  Trời mưa lất phất. Đèn đường tù mù chiếu nhạt nhòa trên đường Điện Biên Phủ. Một người đi xe gắn máy từ phía sau chạy đến, qua mặt sát bên tay trái của Phan xẹt qua như tên bắn. Tay lái của y chạm vào tay bên trái của Phan, giật Phan mất thăng bằng ngã sỏng soài giữa đường. Một xe tải theo ngay sau cán qua người Phan, bỏ chạy thẳng…

 Không biết có giờ linh hay không?
 Không biết người chết có rủ ai đi theo cho có bạn hay không?
  Không biết“ Hồn  hóa sinh về núi đá mưa ngàn” hay không?
  Không ai biết   
                                                                             
Sài gòn, 4/5/2013                                                                          
Lê Duy Đoàn

*
Chú thích:
 
1. Bốn câu thơ nói trên là 4 câu cuối trong bài thơ “Tao ngộ” trong tập thơ “Đêm ngắm trăng” của Bùi Giáng do nhà xuất bản Trẻ in năm 1997.
 
2. Tiếc thương và tôn trọng người đã khuất, tên nhân vật đã được thay đổi.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

TÌNH THƠ - La Thuỵ cùng các thi hữu


           

 
                              TÌNH THƠ
                  Ruột tằm rút mãi đã xong chưa
                  Vấn vít đong đưa đến tận giờ
                  Xướng họa gieo vần thêu ý bút
                  Tâm giao nâng chén dệt đường tơ
                  "Diêu bông" lá mộng kìa ai đợi *
                  "Cổ điển" mùa mơ nọ khách chờ *
                   Cánh bướm Trang Chu còn lãng đãng
                   Đắm hồn ươm kén ủ tình thơ
                                                                 La Thuỵ
 
                  * Lá diêu bông: Tên một bài thơ của Hoàng Cầm
                  * Mùa cổ điển:  Tên một tập thơ của Quách Tấn
 
  
                                  HOẠ
 
 
              1/            KHÔNG ĐỀ
                 Cái nợ văn chương trả chán chưa?
                 Đeo mang buổi ấy đến bây giờ
                 Ngôn từ vật vã bờ danh vọng
                 Chữ nghĩa hoa hòe mớ tóc tơ
                 Lụy ngã bạc tiền, cong bút múa
                 Thăng trầm cơm áo, nấu thi chờ
                 Thời nay lãng mạn ai cần đến?
                 Ngẫm ngợi càng đau mấy áng thơ
                                                                PyN
 
 
                   2/              TRI ÂM
                   Nửa kiếp tìm người đã thấy chưa?
                   Tri âm kiếm mãi đến bao giờ.
                   Lang thang khắp mạng khôn vào web
                   Sục xạo muôn miền khó kết tơ.
                   Chốn ảo đêm đêm lòng vẫn ngóng
                   Vùng chân sáng sáng dạ còn chờ.
                   Đói lòng thử hỏi sao ăn chữ?
                   Chua xót nỗi niềm ta với thơ.
                                                    Huy Vụ                                 
 
                   3/              NỢ THƠ
                   “Thi trái” *  duyên hờ cởi hết chưa
                   Thẩn thờ vướng mãi đến bao giờ
                   Gieo lòng dệt mộng vương hồn bút
                   Tạc dạ ươm tình kết tóc tơ
                   Hoa nở xuân tươi bừng ý đợi
                   Tuyết rơi đông lạnh lịm hồn chờ
                   Thương vay khóc mướn chi nên nghiệp
                   Mấy bận quyết lìa, nghĩ tội thơ
                                                                 Nhã My
                   *Thi trái : nợ thơ
 
 
                   4/      MỘT ĐỜI... NỢ !
                   Cái nợ nhân quần rũ sạch chưa!
                   Ngàn năm vóc cũ tạc đến giờ
                   Cụ Đồ luyện bút đền ơn nước
                   Bác Nguyễn phơi gan lọc mối tơ
                   Vay thế sinh tồn lăn bóng nguyệt
                   Trả đời tử kiệt gạn mong chờ
                   Đẻo từ vặn chữ gieo niềm luyến
                   Kẻo phí hoài tình một tứ thơ!
                                     Mai Trang Huỳnh
 
 
                   5/         DUYÊN THƠ
                   Duyên kiếp thi nhân mộng vẫn chưa
                   Loay hoay tìm lối bấy lâu giờ
                   Nghiên son giữ đẹp xanh hồn bút
                   Nét ngọc gìn tươi thắm sắc tơ
                   Một chữ tri âm còn ngóng đợi
                   Năm câu bằng hữu vẫn mong chờ
                   Sân hòe tỉnh giấc trăng về núi
                   Nghĩ thẹn cho mình cũng khách thơ…
                                                       Điều Giản Dị                                     
 
 
                    6/         TÌNH THƠ
                   Ta gởi bài thơ đã họa chưa
                   Từ tuần lễ trước đến bây giờ.
                   Kết giao học hỏi tìm đường chỉ
                   Du lịch viếng thăm kiếm mối tơ.
                   "Trốc Nguyệt" có còn người đứng vớt
                   "Hạc Lâu" đây vẫn kẻ đang chờ.
                   Bao la thắng cảnh đà qua mắt
                   Đã gợi trong lòng chút vị thơ
                                      Hoàng Kim Liên
 
 
                     7/         VẦN THƠ LẺ
                     Suối ngàn mây núi đã về chưa
                     Chốn cũ thâm u tự bấy giờ
                     Kẻ mộng tang bồng chi hẹn bến
                     Người mong phúc lạc cố quay tơ
                     Trượng phu gió bụi pha màu nhớ
                     Thục nữ xuân tình quyện sắc chờ
                     Chợp mắt hòe an chừng thấm lạnh
                     Vườn xưa dang dở lẻ vần thơ !
                                             Quỳnh Lý Đức

 
                      8/          DUYÊN THƠ
                      Đường thi xướng họa đã bưa chưa?
                      Từ độ quen hơi mãi đến giờ.
                      Bút trổ thơ xinh giàu tiết điệu.
                      Vần gieo tứ đẹp mượt cung tơ.
                      Rảnh rang lên mạng tìm đề họa.
                      Thư giản bày trang kiếm vận chờ.
                      Thỉnh thoảng muốn lờ - đâu có nỡ...
                      Dường như duyên nợ với nàng thơ.
                                                    Hồ Trọng Trí
                                                 Kim long, BRVT
 
 
                      9/          TÌNH THƠ
                      Ngàn xưa mãi đến tận bao giờ
                      Hóa kiếp tằm luôn giữ kén tơ
                      Xướng chọn vần gieo câu tứ lộng
                      Họa nương từ cảm ý tình chờ
                      Trang Chu hóa bướm điều chân thật
                      Hồ điệp mơ tiên ấy tính thơ
                      Em hỡi muôn năm đời vẫn đẹp
                      Thả hồn ấp mộng đã bưa (*) chưa
                                                     Lê Văn Thanh
                      (*) Bưa (phương ngữ): đủ, vừa

 
                      10/       TRANG THƠ
                      Tâm tư dào dạt viết rồi chưa ?
                      Lỡ vận muốn gieo kẹt hết giờ
                      Thơ bạn xướng lên câu bóng gió
                      Bút ta họa lại chữ ươm tơ
                      Dẫu không đáp ứng lời châu ngọc
                      Thì cũng giao lưu ý hẹn chờ
                      Mong ước nàng cùng hòa đối nhịp
                      Cho tình bay bổng những trang thơ
                                                           Vĩnh Hoàng

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG - Trần Kiêm Đoàn

Tin Melbourne - Một trong những nhạc sĩ lão thành của Việt Nam, nhạc sĩ Văn Giảng tên thật là Ngô Văn Giảng, pháp danh Minh Thông, vừa từ trần tại Melbourne, Úc Đại Lợi ngày 9 tháng 5 năm 2013, hưởng thọ 89 tuổi. Tang lễ được cử hành tại chùa Quang Minh vào ngày 12 & 13-05-2013, sẽ được hỏa táng vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Ba 14-05-2013. Xin giới thiệu bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn về vị nhạc sĩ tài danh này

        
                         Nhạc sĩ Văn Giảng (Thông Đạt)
    

         NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG

          Thầy Ngô Văn Giảng vừa tạ thế tại Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Ðức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.
            Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu: “Ðường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Ðây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Ðêm Mê Linh, Qua Ðèo, Nhảy Lửa…
            Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Ðạt thì ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.

BỠN ĐỜI ĐI TU - La Thuỵ


               

                           BỠN ĐỜI ĐI TU
                          (Tặng Nguyễn Hải)
 
                      Bỡn đời xuống tóc bác đi tu
                      Vọng niệm trần thân hết mịt mù
                      Bể ái giờ đây tắt lửa hạ
                      Nguồn ân mai ấy thấm mưa thu
                      Hoa Đàm khai trí xa tường ngục
                      Đuốc Tuệ minh tâm thoát ngõ tù
                      Bát Nhã thuyền xuôi về bến giác
                      Chúc thành La Hán cưỡi lân cù
                                                          La Thuỵ
 
 
                                     VÔ ĐỀ
 
                      Lánh thế xa trần khổ luyện tu
                      Khai tâm mở dạ tránh sa mù
                      Từ bi không cần điều chi phí
                      Hỉ xả chả lo việc thất thu
                      Gõ mõ khua chuông rời cõi tục
                      Niệm kinh đánh khánh bỏ đời tù
                      Quay lưng diện bích lòng chay tịnh
                      Xóa sạch ham mê bỏ đánh cù
                                                          Ký Gàn

 
                                    NGHỀ TU
 
                     Lắm kẻ hiện đời kiếm nghiệp tu.
                     Vô minh mặc kệ lắm sương mù.
                     Tham si vẫn cháy trong chiều hạ
                     Sân hận ẩn tàng dưới nắng thu.
                     Vật dục lên ngôi mờ trí huệ.
                     Tâm từ xuống cấp chối lao tù.
                     Nhà xe bóng lộn tuồng vương giả.
                     Bến giac vời xa - mãi đợi cù !
                                            Hồ Trọng Trí
                                         Kim Long, BRVT

 
                              CHƠN TU

                     Rừng núi chắc gì đã dễ tu
                     Thị thành niệm lặng tan mây mù
                     Nuôi tâm: từ ái thanh lương hạ
                     Dưỡng tuệ: hiểu thương nồng ấm thu
                     Bát nhã hành thâm xa cửa ngục
                     Sắc không quán thấu vượt đường tù
                     Thiên đường, cực lạc: đời như thị
                     Còn đợi nghe chi gióng tiếng cù…!
                                                Lê Đăng Mành
                                                   Mùa sen

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

NỖI NIỀM CÔ PHỤ - Thơ La Thuỵ cùng thi hữu

   


NỖI NIỀM CÔ PHỤ                                 
(Tặng chị Minh Trinh)
                      
Dõi bóng lang quân đã biệt ngàn                     
Ôm niềm nhung nhớ héo dung nhan                      
Chàng nơi âm cảnh mờ sương khói                      
Thiếp chốn phù sinh vịn xóm làng                     
Tứ đức sắt son cam khổ nhọc                       
Tam tòng chung thủy chịu tân toan                      
Chiều xuân đếm tuổi soi màu tóc                      
Hoài vọng tri âm dạo khúc đàn
                                                           
La Thuỵ
    
                     HOẠ
 
                                         
CÔ PHỤ
                       
Trống trải hoàng hôn lạnh gió ngàn                       
Một mình năm tháng mấy lo toan                       
Người đi chẳng hiểu câu tha thiết                       
Kẻ ở hoài trông giấc lỡ làng                       
Tình bạc quên đành ân nghĩa thắm                      
Thủy chung nhớ mãi sắc hương tàn                       
Nỗi niềm đơn lẽ sầu hiu hắt                       
Chẳng trọn tình yêu lỗi nhịp đàn
                                                             
Nhã My
 
                                     
NỖI NIỀM
                       
Gió bụi thu phai tiễn dặm ngàn                       
Gương sầu đối bóng rũ hồng nhan                      
Năm canh trăng khuyết miền cô tịch                       
Sáu khắc đời chao phận lỡ làng                       
Lẻ thiếp mơ tròn câu hạnh ngộ                      
Thương chàng giữ vẹn nghĩa lo toan                       
Xuân sơn chau mặt nhìn thu thủy                        
Sóng vọng âm ba gió lạnh đàn!...
                                                  
Quỳnh Lý Đức
 
                              
NỖI LÒNG QUẢ PHỤ
                       
Anh đi khuất núi nẻo mây ngàn                       
Vò võ thân em úa sắc nhan                      
Cách biệt ngưòi dời về cõi phật                      
Cam tâm thiếp chịu dựa dân làng                       
Hồng nhan bạc mệnh nhiều cơ trải                      
Phận mỏng cánh chuồn lắm nỗi toan                       
Tuế nguyệt dần phai sương điểm tóc                       
Giữ trau tiết hạnh trọn cung đàn.
                                                     
Hải Đăng
 
                            
NỖI LÒNG CHINH PHỤ
                      
Chinh phu biền biệt bóng mây ngàn,                     
Để thiếp mang sầu úa sắc nhan.                      
Nhớ quá con thơ trông cuối ngõ,                      
Thương nhiều cha mẹ ngóng đầu làng.                      
Bên đời gia thất lo chu chỉnh,                      
Cuộc sống riêng mình chẳng tính toan.                      
Trằn trọc đêm đêm nghe dế khóc,                     
Trách ai lỗi nhịp lỡ cung đàn
                                                 
Hoàng Kim Liên