Cuối năm 1947, tôi từ Việt Bắc (Cao-Bắc-Lạng) xuống
Khu Ba (Chợ Đại, Cống Thần) rồi có ý định đi theo Trần Văn Giàu vào Nam chiến đấu.
Nhưng khi vào tới Thanh Hóa (Khu 4 - làng Quần Tín) thì tôi gặp tướng Nguyễn
Sơn và ở lại đó, gia nhập Ban Văn nghệ của Trung đoàn 304. Tại đây tôi gặp Hữu
Loan...
Đầu húi cua, tiếng nói lớn, và khi ngủ thì ngáy như sấm,
vậy mà khi làm thơ thì toàn thơ buồn. Anh vừa góa vợ và có một bài thơ rất buồn
thương là bài Màu tím hoa sim mà nhiều
người đã phổ nhạc, trong đó có tôi (có hai người khác phổ nhạc nữa là: Dzũng
Chinh với tên Những đồi hoa sim và
Anh Bằng thì lấy tên là Chuyện hoa sim).
Nhưng đến khi tôi phổ nhạc xong bài thơ thì chính quyền hồi đó (1948) cho rằng
bài thơ tiêu cực quá, nên tôi không muốn phổ biến bài hát đó. Sau này, khi tôi
vào Sài Gòn sinh sống, tới năm 1971 tôi mới chính thức tung ra bài hát. Khi đó,
tôi đặt tên cho bài hát là Áo anh sứt chỉ
đường tà.
(Một ca khúc trong selection Thương Ca Chiến Trường).
Theo tôi, bài Áo
anh sứt chỉ đường tà tuy có vẻ buồn thương, nhưng không bi lụy mà bi hùng!
Tôi nghĩ, bổn phận của người nghệ sĩ trong thời chiến phải biến cái bi thành
cái hùng. Bài thơ của anh Hữu Loan có cả hai yếu tố đó và trong bản nhạc người
nghe cũng nghe được cả hai tiếng: tiếng hùng và tiếng bi. Tôi soạn thành một “ca khúc” dài tới 7 đoạn gồm khoảng 80
khuông, thành một bài “ái quốc ca”
dài (long patriotic chant) hơn là một bài “vãn ca” (Complainte)
Vì là một truyện ca dài, bài hát được chia ra 6 đoạn,
nói tới chuyện một anh chiến binh từ mặt trận trở về, cưới xong người con gái
anh yêu, rồi lại phải trở về quân ngũ. Ở chiến trường, nhiều khi nhớ vợ, lo lắng
cho vợ. Ở quê nhà, bỗng không may người vợ trẻ bị chết đuối, anh không được gặp
mặt vợ. Lòng anh rất buồn nhưng vẫn hăng hái theo đoàn chiến sĩ ra đi. Trên đường
hành quân, qua những đồi sim, anh nghe thấy có tiếng văng vẳng ru: À ơi, Áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm,
mẹ già chưa khâu....
Đây là những đoạn nhạc với tình cảm khác nhau trong
bài hát : Mở đầu (giọng kể) – Khúc vui (đám cưới) – Khúc lo lắng – Khúc buồn –
Khúc rất buồn – Khúc kể lể - Đoạn cuối (hành khúc bi hùng).
Thế rồi tôi và Hữu Loan xa nhau … Khi bài hát được phổ
biến tại miền Nam, ở một miền Bắc còn cách rời và xa thăm thẳm, anh Hữu Loan được
báo chí phỏng vấn về bài hát này (1995), đã trả lời :
Hữu Loan :
Cái bản nhạc suốt ngày rên rỉ “Nàng có ba người anh đi
quân đội” là của ai ?
Phạm Duy. Lúc ấy ở Thanh Hóa là “thủ đô của văn nghệ”
kháng chiến. Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Ngọc Phan, Hằng Phượng, Lưu Trọng
Lư … và cả các trí thức Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Mạnh Tường,
Trương Tửu đều về quê ta cả. Nguyễn Tiến Lâng, Phạm Duy và bọn tôi là lính của
tướng Nguyễn Sơn. Mình cưới vợ vào thời ấy và làm Màu Tím Hoa Sim cũng vào thời
ấy. Phạm Duy phổ nhạc nhưng lúc vào thành mới đem ra hát. Chuyện trong bài thơ
là chuyện thật của đời mình !
Cả cái câu :
“Ngày
hợp hôn nàng không đòi may áo cưới
Tôi
bận đồ quân nhân
Đôi
giày dính bết bùn đất hành quân
Nàng
cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo”
Cả, y nguyên như chuyện ngoài đời, chỉ dung lời để đưa
vào thơ nên có thể làm một mạch. Cuộc sống đọc, nhà thơ ghi lại.
Hà Nội, 4/1995
Rồi một nửa thế kỷ trôi đi … Vào năm 2005, tôi từ Hoa
Kỳ trở về thăm quê hương. Một ngày nào đó trong năm 2006, bỗng tôi có cơ hội đi
thăm Hữu Loan.
Trong một cuộc du lịch trên đường cái quan, tôi phải
đi ngang qua tỉnh Thanh Hóa. Biết anh Hữu Loan còn sống trong một làng nhỏ
(Làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, Huyện Nga Sơn), thế là tôi đi xe ôm vào thăm. Anh
em gặp nhau trong hoàn cảnh cả hai đã già cả rồi. Chúng tôi ôn lại dăm ba câu
chuyện rồi chia tay nhau. Lúc đó tôi thấy anh Hữu Loan đã hơn 90 tuổi mà hãy
còn khỏe mạnh thì mừng lắm.
Phạm Duy
(Vang Vọng Một Thời)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét