BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN NGỮ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

TỪ "GIO" KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG CÁC TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM, CHỮ HÁN, TỰ ĐIỂN CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN! VẬY, "GIO" TỪ ĐÂU? - Nguyễn Chương Mt



* "Gio" (chẳng hạn, trong "Gio Linh") là một hiện tượng ngôn ngữ quái lạ lắm đa!

/1/ Những chữ như "gió", "giỏ", "giò" thuộc về quốc âm tiếng Việt, được ghi trong CHỮ NÔM. Nhưng, "gio" thì không thấy.
Kể cả biến âm từ ngôn ngữ khác thì chữ Nôm cũng ghi lại. Như "Mỹ Tho", "Cần Thơ", "Sóc Trăng" (biến âm từ tiếng Khmer), "Phan Rang", "Nha Trang" (biến âm từ tiếng Chàm) đều được ghi lại bằng chữ Nôm. Muốn hiểu nghĩa thì tra cứu nguyên ngữ tiếng Khmer, tiếng Chàm thì biết.
(mấy chữ trên đây, sách vở đều đã giải thích nghĩa gốc rồi)
Tỉ như "gio" thuộc về biến âm đi nữa, nhưng cũng không thấy ghi lại trong chữ Nôm!

/2/ Chữ Hán thì hoàn toàn KHÔNG có âm HV nào đọc là "Gio", mà chỉ có âm HV đọc "Do". Như trong Đại Nam nhất thống chí, viết bằng chữ Hán, ghi tên địa danh 由靈, âm HV là "Do Linh" - "Do", không "Gio"!

/3/ Còn tự điển chữ Quốc ngữ ĐẦU TIÊN là Tự điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Đắc Lộ (Alenxander Rhodius, tiếng Pháp là Alexandre de Rhodes), xuất bản giữa thế kỷ 17 (năm 1651): hoàn toàn không có mục từ nào ghi “GIO” hết!

/4/ Hiện nay chúng ta viết bằng chữ Quốc ngữ abc, quí bạn gõ "g-i-o" thành "gio" dễ ợt; nhưng "gio" nghĩa gì thì không biết.
Hoặc "gio", rồi "Gio Linh"... có thể là biến âm từ ngôn ngữ khác, vậy từ ngôn ngữ nào để tìm hiểu nghĩa gốc (cũng "quái", cho dù biến âm thì chữ Nôm thông thường vẫn ghi lại, lưu lại kia mà! - như dẫn chứng /1/).

/5/ Ít nhứt là từ giữa thế kỷ 17, ký ức về chữ "GIO" đã bay đâu mất tiêu rồi (thành thử cuốn tự điển Việt -Bồ - La, chữ Quốc ngữ bấy giờ không ghi "Gio")!
Chữ Hán thì chắc chắn không có âm HV "gio".
Còn chữ Nôm, từ thế kỷ 17 trở ngược TRƯỚC ĐÓ, có ký tự nào được dùng để ghi và đọc là "gio" không?
Quí bạn nào biết, XIN GIÚP CHO BIẾT ký tự Nôm đó viết ra sao (cho biết nguồn mà ký tự đó được lưu lại).

* Sẵn trớn, nói nhanh: có người cho rằng "tro" đọc thành "gio", ồ, đó là cách phát âm của một số nơi ngoài Bắc, trong khi ở đây "Gio" (Gio Linh) là phát âm của người Quảng Trị (không đọc "tro" thành "gio"); mặt khác, kể cả người ngoài bắc phát âm "tro" thành "gio", tự điển chỉ ghi "Tro", không có "gio".

TẠM THAY LỜI KẾT

Vì chưa dám, chưa thể kết luận, nên "tạm thay lời kết".
Sự "biến mất" rất có thể liên quan đến việc "trục xuất" ngôn ngữ cách nào đó - chỉ thấy xuất hiện "gio" trở lại trong CHỮ QUỐC NGỮ mãi về sau này, nhưng do bị "cắt đứt", "trục xuất" nên không còn hiểu cho tỏ tường "gio" từ đâu ra, và ý nghĩa (chẳng hạn nghĩa của "Gio Linh" từ nguyên ngữ gốc).
Không chỉ "Gio", mà còn một số từ ngữ khác nữa cũng bị "đứt mạch" nên hiện nay nói mà không còn rõ nghĩa.
Soi tỏ, "tìm về dấu xưa", cũng là TÌM VỀ những biến động ẨN KHUẤT trong LỊCH SỬ ...
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

CỨU CÁNH 究竟 - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮



“Cứu cánh”, theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, được giảng là: “mục đích cuối cùng.” Đây là cách hiểu quen thuộc trong tiếng Việt hiện đại, thường dùng để chỉ đích đến sau hết của một hành động hay một quá trình.
 
Cứu cánh, chữ Hán viết 究竟, vốn có nghĩa cơ bản là tận cùng, đến mức rốt ráo, từ đó phát triển thành các nghĩa như kết cục, chân tướng của sự việc hoặc dùng như phó từ với nghĩa rốt cục, xét cho cùng.
 
Trong đó:
Cứu nghĩa là đi đến tận nơi theo sách Thuyết Văn Giải Tự. Chữ này về sau còn được dùng với nghĩa truy cứu, khảo sát, tìm cho ra lẽ như trong các từ tra cứu, khảo cứu, nghiên cứu,... Cánh là kết thúc, chỗ dừng sau cùng.
 
Trong cổ văn, cứu cánh thường được dùng với nghĩa truy đến nơi đến chốn hoặc hiểu thấu tận cùng. Ví như trong Sử ký có câu: Phi bác văn cường ký quân tử giả sở bất năng cứu cánh kỳ ý 非博闻彊记君子者所不能究竟其意, tạm dịch là: Nếu không phải là bậc học rộng nhớ nhiều thì không thể hiểu thấu đến cùng ý ấy. Ngoài ra từ này cũng có nghĩa cảnh giới tối hậu, chí cực, cõi Phật như "cứu cánh Niết bàn" trong thuật ngữ Phật giáo.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, từ này được ghi nhận với nghĩa "mục đích cuối cùng". Nghĩa này thực chất là một cách hiểu triển khai từ nghĩa gốc “đi đến tận cùng”, thiên về điểm kết thúc hay đích đến sau cùng của một quá trình.
 
Tuy nhiên do hiện tượng đồng âm, chữ "cứu" trong cứu cánh lại thường bị nhầm với chữ "cứu" trong cứu giúp. Bởi lẽ đây là một từ xuất hiện với tần suất rất cao trong tiếng Việt như trong các từ cứu nạn, cứu trợ, cấp cứu, cứu hộ, cứu hỏa, cứu nguy,... nên không ít người vô thức gán nghĩa "cứu vớt" vào "cứu cánh".
 
三生倏忽真風燭,
九界循環是蟻磨。
或問如何為究竟,
摩訶般若薩婆訶。
 
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,
Ma-ha bát nhã tát-bà-ha.
 
Ba sinh: gió thổi, đuốc loè tắt,
Chín cõi: cối vần, kiến nhẩn nha.
Muốn hỏi thế nào là cứu cánh,
Ma-ha bát nhã, tát-bà-ha!
(Tuệ Trung Thượng sĩ, bản dịch thơ Huệ Chi)
 
Xếp hàng ngang cùng lách
Hiện đại và thô sơ
Xếp hàng dọc mà len
Vượt lên là cứu cánh
Còi xe dồn lanh lảnh
Mồ hôi tháo đầm đìa
Có kế gì phù phép
Sang được đường bên kia!”
                       (Bằng Việt)
 
Xin em nỗi buồn, dừng lại
Anh đang cháy cạn đời mình
Van em, van em… cúi xuống
Nỗi buồn - cứu cánh - hồi sinh.”
               (Nguyễn Minh Dũng)
 
                                                                Bài viết của Khánh Ly
                                                         Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.
 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc () chỉ ý và chữ Bách làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ biểu ý và chữ Bách biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

UYÊN ÁO 淵奧 - Ung Chu, HánViệt Thông Dụng



- uyên : vực sâu, chỗ nước sâu; sâu, như trong "uyên bác", "uyên thâm", chữ này mang bộ "thuỷ" (nước)
- áo : chỗ sâu kín trong nhà; sâu xa, sâu kín.
"Uyên áo" 淵奧 dùng để tả thâm sâu, sâu xa, sâu kín: tính uyên áo của giáo lí, kiến thức uyên áo, ý nghĩa uyên áo...
 
                                                                               Ung Chu 
                                                                     Hán Việt Thông Dụng

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

TỤC HUYỀN 續弦 - Bài viết: Khánh Ly, Tri thư đạt lễ - 知書達禮


 
“Dạy rằng hương lửa ba sinh,
 Dây loan xin nối cầm lành cho ai.”
                               (Truyện Kiều)

Loan huyền, chữ Hán viết 鸞弦, nghĩa là dây đàn đã đứt được nối lại bằng keo loan. Đây là một điển cố trong thần thoại Trung Hoa. Theo Hải nội thập châu ký - Phụng lân châu chép rằng ở châu Phụng Lân Tây Hải có nhiều tiên nhân. Tiên nhân dùng mỏ chim phụng và sừng kỳ lân nấu thành một loại keo thần, có thể nối dính dây cung hoặc dây đàn bị đứt, khiến dây liền lại như cũ. Loại keo ấy gọi là Tục huyền giao 續弦膠 hoặc Loan giao 鸞膠.

Từ điển cố này, hành động nối dây đàn trong văn chương cổ thường được dùng để chỉ việc tái kết duyên vợ chồng, nhất là trường hợp người đàn ông góa vợ lấy vợ kế. Các thành ngữ như Loan giao tái tục 鸞膠再續 hay Loan giao phụng ti 鸞膠鳳絲 cũng đều mang ý nghĩa nối lại mối duyên cầm sắt.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

“THỌ” (壽) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Thọ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Sau Phú và Quý, Ngũ phúc bàn đến Thọ. Thọ, chữ Hán viết .
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Thọ được giảng là lâu dài. Chữ này cấu tạo từ bộ Lão tỉnh lược biểu ý và chữ Thọ 𠷎 biểu âm. Buổi đầu, Thọ được dùng với nghĩa tuổi thọ và sinh mệnh con người, gắn với khái niệm về thời gian tồn tại chứ vẫn chưa mang ý chúc tụng hay lễ nghi. Càng về sau, chữ Thọ mới dần phái sinh ra nhiều lớp nghĩa, ví như:

“QUÝ” (貴) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Quý, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Quý, chữ Hán viết , là chữ thứ hai trong Ngũ phúc. Thật ra thứ tự ấy không phải ngẫu nhiên. Khi đời sống đã đủ đầy về vật chất, con người bắt đầu để ý đến những giá trị trong cách người xưa nhìn đời, và vì mối quan tâm ấy nên Quý mới xuất hiện sau Phúc.
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Quý có nghĩa là vật không bị coi rẻ. Chữ này cấu tạo từ bộ Bối , được xác lập khái niệm từ sự đối lập với Tiện , tức cái bị coi rẻ, xem thường.

“PHÚ” (富) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Phú, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 

“Trong nhà có một miệng ăn
Ruộng vườn một khoảnh, quanh năm dư thừa”.
                                                           (Ca dao)
 
Người Việt xưa rất khéo học chữ Hán qua những câu ca dao gần gũi đời thường. Câu ca dao này chính là mẹo vặt để ghi nhớ chữ Phú của ông bà ta.

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

LẠC HOA ĐỀ ĐIỂU (落花啼鳥) – Theo Cảm nhận chữ Hán



Lạc hoa đề điểu (落花啼鳥) là một cụm từ ngắn gọn nhưng chan chứa cảm xúc, thường xuất hiện trong thi ca cổ để gợi nên nỗi buồn man mác giữa không gian vắng lặng.
 
Trước hết, xét từng chữ:
(Lạc) nghĩa là rơi, rụng. Trong văn chương, “lạc” thường gợi cảm giác tàn phai, suy tàn, không còn ở thời điểm rực rỡ nhất.
(Hoa) là hoa – biểu tượng của cái đẹp, của tuổi xuân, của sự viên mãn. Hoa nở là khởi sắc, nhưng hoa rụng lại là dấu hiệu của tàn phai, của một chu kỳ sắp khép lại.
(Đề) nghĩa là kêu, thường dùng cho tiếng chim hoặc tiếng khóc. Chữ “đề” trong văn cảnh cổ không chỉ là tiếng kêu đơn thuần, mà thường mang sắc thái ai oán, thê lương.
(Điểu) là chim – hình ảnh của tự do, của sinh khí, của âm thanh trong thiên nhiên.

GIAO THỪA 交承 – Theo Tiếng Việt giàu đẹp



Theo "Hán Việt từ điển giản yếu" của Ðào Duy Anh, "giao thừa" vốn viết bằng Hán tự là 交承, với “giao" () là “trao cho" (như trong “bàn giao"), còn “thừa" () là “đón lấy" (như trong “thừa lệnh").
 
Giao thừa" (交承) có nghĩa là “cũ giao lại, mới tiếp lấy” -  “lúc năm cũ qua, năm mới đến”.
Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Cúng giao thừa là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xui xẻo của năm cũ và đón chờ những điều tốt đẹp của năm mới.
Giao thừa còn có tên gọi khác là trừ tịch (除夕), với “trừ” () là “loại bỏ, thay đổi”, “tịch” () là “buổi tối, đêm”. Có thể hiểu “trừ tịch” là “đêm của sự thay đổi”.

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

TÁO QUÂN 竈君 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Táo Quân, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Táo Quân, chữ Hán viết 竈君, trong đó Táo là bếp, Quân là chủ, người đứng đầu. Táo Quân nghĩa là “Ông táo (thần bếp)” theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê).
Trong văn hoá Việt, Táo Quân thường được gọi thân thương là ông Táo hay Táo công. Đây là vị thần trông coi gian bếp, cũng là người giữ sổ sinh hoạt của mỗi gia đình, còn được gọi bằng nhiều tên khác như Táo Thần, Táo Vương, Táo Công Táo Mẫu (Táo Ông Táo Bà), v.v.. Chỉ riêng hệ thống tên gọi đã cho thấy vị thần này luôn biến đổi theo thời đại, theo nhu cầu tín ngưỡng chứ không cố định trong một hình dung duy nhất nào.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

LẠI LÀM KHÓ AI - Son Tran



A. Tôi đưa ảnh chụp dấu triện này vào Gemini và ChatGPT kèm theo dòng lệnh: "Bạn có đọc được những chữ khắc trên đó và dịch sang tiếng Việt không?"
Cả hai ngoan ngoãn trả lời: “Có, tôi sẽ đọc và dịch sang tiếng Việt giúp bạn”.

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối (+4 nét)
Lục thư: hội ý
Hình thái: 毌貝
Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

HÃY CẨN TRỌNG VỀ SỰ BỊA ĐẶT CỦA AI KHI NHỜ AI DỊCH CHỮ HÁN – Bài viết của Son Tran


Ảnh 1
 
Học trò cũ của tôi ở Đại học Phú Xuân là Thu Amy, gửi cho tôi 3 bức ảnh kèm lời nhắn: “Nhờ thầy xem giúp cặp câu đối chữ Hán ở ảnh 1 dịch sang tiếng Việt có đúng như AI dịch ở ảnh 2 và ảnh 3 không?”.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

CỦ MẬT 糾密 - Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Tháng Chạp trước Tết còn được người Việt từ xưa gọi là tháng củ mật. "Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ghi:
- Củ-mật. Nói về độ gần tết hay có trộm cướp, nhà nào cũng phải giữ-gìn cẩn-thận: Tháng củ-mật.