
Thầy đồ Đỗ Chiêu Đức
Bài 2
Không phải cái gì cũng có hình dáng để vẽ ra được, cho
nên ngoài cách Tượng Hình để vẽ nên chữ, ta còn có cách CHỈ SỰ.
2. CHỈ SỰ 指事
:
Chỉ Sự là dùng một ký hiệu hoặc hình tượng tiêu biểu
nào đó để chỉ những sự việc không có hình tượng mà tạo nên chữ viết, hoặc dùng
một chữ tượng hình có sẵn, thêm hoặc bớt nét để làm thành một chữ mới. Tiếng
Anh gọi là Indicatives.
Xem các ví dụ sau đây:


1 2 3 4 5
Phía trên là ký hiệu chỉ các số đếm ngày xưa, diễn tiến
thành các chữ NHẤT 一
, NHỊ 二 , TAM 三 ...
Bên dưới có 5 chữ theo thứ tự sau đây:
1. NGUYÊN 元
:
Hình người quỳ xuống có một vạch trên đầu để chỉ Ý,
nên NGUYÊN có nghĩa là : Đầu, là bắt đầu, là Chính. Ví dụ:
* Nguyên Thuỷ
元始 là Bắt đầu, là Mở đầu.
* Nguyên Đán 元旦 là Ngày bắt đầu của một năm.
* Nguyên Thủ 元首 là Người đứng đầu trong một nước.
* Nguyên Phối 元配
là Người phối ngẫu chính thức, là Vợ
lớn, khi
vợ mất cưới vợ kế, thì gọi là Kế Phối 继配.
Câu đối Tết nổi tiếng bao gồm cả trời đất là:
Nhất
nguyên phục thuỷ,
一元復始,
Vạn
tượng canh tân.
萬象更新。
Có nghĩa:
Một
dòng nguyên khí của trời đất trở lại lúc ban đầu.
Muôn
vàn hiện tượng (bao gồm người, vật, sự vật) đều đổỉ mới.
2. ĐÁN 旦 :
Hình mặt trời mới mọc, một vạch ở phía dưới tượng
trưng cho đường chân trời. Nên Đán có nghĩa là Ngày mới bắt đầu, tức là Buổi
Sáng, như
* Đán Mộ 旦暮 có nghĩa là Sớm Tối, Sáng Chiều.
* Đán là
ngày Mùng một Âm Lịch, nên ngày mùng một Âm lịch đầu tiên của tháng đầu tiên gọi
là Nguyên Đán ( Tết Nguyên Đán ).
* Đán là
Ban ngày đối với DẠ 夜
là Ban đêm.
* Nhất Đán 一旦 là Một ngày nào đó, mà cũng có nghĩa là
Trong Một
Ngày nữa.
Tăng Quảng Hiền Văn có câu:
Bách
niên thành chi bất túc,
百年成之不足,
Nhất
đán hoại chi hữu dư.
一旦壞之有餘。
Có nghĩa:
- Cái
mà ta gầy dựng cho thành đạt thì một trăm năm vẫn còn chưa đủ. Nhưng...
- Cái mà
ta muốn phá tán hủy hoại thì trong một ngày cũng có thừa (thời gian để làm
việc đó rồi). Ví dụ:
Sự nghiệp gầy dựng cả trăm năm của ông cha để lại, con
cháu chỉ cần cờ bạc phá tán trong một buổi là tiêu tan hết rồi ! (không cần phải
tới một ngày!).
3. THIÊN 天
:
Như ta đã biết trong phần Tượng Hình, người đứng dang
hai tay ra là chữ Đại là Lớn, nhưng đầu vẫn phải đội trời, nên vạch ngang trên
đầu người chỉ Trời, nên Thiên là Trời. Ta chỉ thấy được bầu trời xanh lúc ban
ngày, nên Thiên cũng có nghĩa là Ban Ngày. Nhưng Trời như thế nào ? Trời lạnh lẽo
của mùa Đông, Ấm áp của mùa Xuân, Nóng bức của mùa Hè và Mát mẻ của mùa Thu,
nên Trời còn có nghĩa là MÙA, ví dụ:
* Xuân Thiên 春天 là Mùa Xuân, Hạ Thiên là Mùa Hè, Thu
Thiên là Mùa Thu và Đông Thiên là Mùa Đông.
* Nhất Thiên
一天 là Một Ngày, Lưỡng Thiên là 2 ngày...
* Thiên
Không 天空 là Bầu trời, Thiên Nhỡn 天眼 là Con mắt của trời, là Con Mắt của Cao
Đài Giáo toả sáng khắp nơi, còn gọi là Tuệ Nhỡn 慧眼
: Con nắt của Trí Tuệ!
Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu:
Thiên
nhỡn khôi khôi,
天眼恢恢,
Mắt
trời lồng lộng, nhìn khắp cả, nên...
Sự
báo ứng sẽ diễn ra rất nhanh!
4. LẬP 立
:
Lập là Đứng, ta thấy hình người dang tay đứng hiên
ngang trên mặt đất, vạch ngang phía dưới chân người chỉ mặt đất. Nên Lập là Đứng,
như :
* Độc Lập 獨立 : là Đứng riêng một mình, không dựa dẵm
vào người khác. Nước Độc lập là Nước tự chủ, có chủ quyền riêng, không bị thao
túng bởi ngoại bang. Trong nghề võ có thế "Kim
Kê Độc Lập" là Thế đứng vững dàng như con gà trống vàng đứng một chân
một cách hiên ngang vậy!
* LẬP là Đứng
một cách vững chắc, là Gầy dựng nên. Ta có các từ sau :
* Lập Thân 立身 : là Làm cho bản thân mình đứng vững chắc
trong cuộc sống.
* Lập Gia 立家 : Gầy dựng nên gia đình, tương tự ta có từ:
Lập Nghiệp,
Lập Chí, Lập Pháp ....
5. DIỆC 亦 :
Hình người đứng dang 2 tay có 2 chấm 2 bên nách, nên DIỆC có nghĩa gốc là Cái Nách, nhưng được sử dụng làm Phó Từ có nghĩa là CŨNG, là CHẲNG QUA, CHỈ LÀ ... tuỳ theo nghĩa trong câu. Ví dụ:
Trong bài hát nói "NGHĨ TIẾC CHO AI" của Cao Bá Quát có 2 câu thơ chữ Hán như sau:
Ngã
DIỆC tri phi ninh tác ngã,
我亦知非寧作我,
Nhân
vô bất thị thả khan nhân.
人無不是且看人
Có nghĩa:
- Ta CŨNG biết là mình sai đó, nhưng ta thà giữ lấy cái sai của mình, Còn ...
- Người không có gì không phải hả, thì hãy chờ xem người (đúng như thế nào đây?!).
Hai câu thơ chứng
tỏ được sự lẫy đời và cao ngạo của Chu Thần Cao Bá Quát!
THƯỢNG HẠ TRUNG
Chữ Chỉ Sự đơn giản nhất là chữ THƯỢNG 上 và chữ HẠ 下.
Nét ngang là mặt đất, Một nét bên trên như cây nọc cắm trên mặt đất là chữ THƯỢNG, nét dưới hoặc cây nọc trở
đầu xuống dưới là chữ HẠ.
Chữ TRUNG 中
là một vòng tròn có một vạch sổ ngay chính giữa, nên Trung có nghĩa là GIỮA, là
bên TRONG, ta có các từ như:
- Trung Tâm 中心 là Ngay chính Giữa.
- Tâm Trung 心中 là Ở Trong lòng.
Tâm Điểm là
Điểm ở Giữa.
Điểm Tâm là
Ăn Sáng.
Thượng Trung Hạ luôn luôn đi kèm theo cuộc sống của
con người từ ngàn xưa tới nay. Từ thời Chiến Quốc đã có các chức quan Thượng Đại
Phu 上大夫, Trung Đại Phu 中大夫, Hạ Đại Phu 下大夫. Vật dụng, quần áo, trang sức, mũ mão...
đều phân chia Thượng Trung Hạ, Tốt Xấu Vừa, ngay cả con người trong xã hội cũng
phân chia Thượng tầng, Trung tầng và Hạ tầng Giai cấp, nên mới có câu nói:
Thượng
bất chính, Hạ tắc loạn.
上不正,下則亂。
Trên
không ngay, Dưới lộn xộn!
Người trên trước mà không đàng hoàng, thì kẻ phía dưới
thế nào cũng "dữ ngươi" mà làm bậy!
Xã hội ngày xưa thiếu Thầy Thuốc để cứu nhân độ thế,
nên người Thầy Thuốc được tôn xưng là Đại Phu, cũng như ta tôn xưng Thầy Thuốc
ngày nay là Bác Sĩ 博士vậy!
(Bác Sĩ 博士trong
tiếng Hán là học vị Tiến Sĩ 進士.
Người học ngành Y luôn luôn phải học đến nơi đến chốn để cứu người, nên thời
gian học tập rất lâu rất dài, gọi Bác Sĩ là Tiến Sĩ thì cũng xứng đáng thôi !).
Trở lại với một chữ Chỉ Sự rất... đa sự, đó là chữ Mộc
木. MỘC là chữ Tượng Hình,
theo hình vẽ cái Cây có cả phần Cành lá phía trên và cả phần Rễ cây phía dưới
như sau:
Từ chữ Mộc 木
nầy, ta thêm phần trên một Gạch Ngang Ngắn
chỉ phần Chưa phát triển của cây, thì ta có chữ VỊ 未, có nghĩa là CHƯA. Quá khứ Vị lai là chữ VỊ nầy.
Còn...
Nếu ta thêm một Gạch Ngang Ngắn ở trên phần rể
cây để chỉ phần cuối của thân cây thì ta
có chữ MẠT 末, có nghĩa là CUỐI,
HẾT. Như ta thường nói "Thời Lê mạt"
tức là thời gian "Cuối nhà Lê", còn "Mạt vận" có nghĩa là "Hết thời
rồi!".
Còn nếu ta thêm cái Ngang Ngắn đó ở dưới phần rể của
chữ Mộc, thì ta có chữ BỔN 本
là GỐC, là RỂ, là VỐN. Thành ngữ mà ai cũng biết là:
Mộc
BỔN thuỷ nguyên.
木本水源.
Ta nói là:
Cây
có cội, nước có nguồn!
Ngày Tết, giới thương buôn hay chúc nhau:
Có nghĩa:
Một
đồng vốn, mười ngàn đồng lời!
Ta hãy xem các hình minh họa sau:

VỊ 未 MẠT 末 BỔN本
Ngoài ra,
Chữ MỘC 木
còn cho các chữ vừa CHỈ SỰ, vừa HỘI Ý như chữ LÂM 林 là Rừng, gồm 2 chữ Mộc ghép lại, và... chữ SÂM 森 là Rừng Sâu, Rừng Rậm, gồm 3 chữ Mộc ghép lại.
Ở đây ta thấy... Ba cây chụm lại...không có thành hòn
núi cao, mà thành Rừng Sâu nước độc với từ Sâm Lâm 森林 là
Rừng rậm (2 chữ nầy được ghép bởi 5 chữ MỘC mà thành).
Tương tự như chữ Mộc, ta có chữ NỮ 女 là chữ Tượng hình như sau:


Ta thấy...
Hình của một cô gái ẻo lả, hai tay đưa ra trước với
dáng điệu quỳ xuống như để hầu hạ ai. Nên NỮ 女
là Con Gái, là Phái Nữ, giới tính bị ngược đãi kỳ thị trong xã hội phong kiến
xưa. Về mặt diễn tiến của chữ viết, thì NỮ là con Gái chưa có chồng, đến khi có
chồng rồi thì phải có con. Bấy giờ, phần trên của chữ NỮ được chấm thêm 2 chấm
nữa, tượng trưng cho 2 cái vú để cho con bú, và đó chính là chữ MẪU 母 là MẸ, theo diễn tiến của chữ viết như sau:

Vậy nên...
MẪU 母
là chữ được hình thành theo CHỈ SỰ, do chữ Tượng Hình NỮ thêm vào 2 chấm mà
thành. MẪU là mẹ, ta có các từ chỉ mẹ như sau:
- Từ Mẫu, Hiền
Mẫu, Huyên Đường.
- Gia Từ,
Gia Mẫu: là từ tự xưng mẹ của mình với người khác một cách khiêm tốn lịch sự.
- Lệnh Từ,
Lệnh Mẫu, Lệnh Đường, Lệnh Huyên Đường: là từ tôn xưng dùng để gọi hoặc để chỉ
mẹ của người khác cho lịch sự, khách sáo.
Huyên Đường
là từ chỉ chung về người mẹ mà Cụ Nguyễn Du đã dịch rất hay là NHÀ HUYÊN trong
câu:
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
NHÀ HUYÊN chợt tỉnh hỏi cơn cớ gì?!
và khi đưa Kiều theo Mã Giám Sinh, Cụ cũng viết:
Bên
ngoài chủ khách dập dìu,
Một
NHÀ HUYÊN với một Kiều ở trong.
Sau Mẹ là Cha, ta có chữ...
PHỤ 父
là CHA, cũng là chữ Chỉ Sự theo diễn tiến chữ viết như sau:

Quan sát các hình trên, ta thấy...
Hình của một người đàn ông đứng cong lưng về phía trước,
hai tay dang ra một trên một dưới, phía trước đầu là một cây nọc dùng xăm lổ, bỏ
hột giống để trồng trọt. Hình tượng của một người đàn ông đang lao động canh
tác để nuôi sống gia đình, đó chính là Người Cha: Người lao động chính của gia
đình. Các từ dùng để chỉ Cha có...
- Từ Phụ,
Nghiêm Phụ, Xuân Đường, (Thung Đường).
- Gia Phụ,
Gia Nghiêm là từ dùng để tự xưng cha của mình với người khác một cách khiêm tốn
và lịch sự.
- Lệnh Phụ, Lệnh
Nghiêm, Lệnh Tôn, Lệnh Xuân (Thung) Đường là từ dùng để tôn xưng cha của người
khác một cách khách sáo và lịch sự.
Trong đêm khi đầu ấp tay gối, Kiều khuyên Thúc Sinh về
thăm Hoạn Thư, nên chàng mới ...
Rạng
ra trình lại THUNG ĐƯỜNG,
Thúc
Ông cũng vội khuyên chàng qui gia.
Khi trở lại tìm Kiều không gặp, Kim Trọng đã đau xót đến
nỗi “Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”,
khiến cho ...
XUÂN
HUYÊN lo sợ xiết bao,
Hóa
ra khi đến thế nào mà hay ?!
Lại một chữ Tượng Hình mà lại là Chỉ Sự nữa, đó chính
là chữ CHÚC 祝, ta hãy xem các
diễn tiến của chữ viết sau đây:
Ta thấy ...
Bên trái có một gạch ngang ba gạch xuôi như cái Bàn Thờ
ông Thiên, phía trên có một gạch ngắn như cái dĩa đựng đồ cúng. Bên phải là
hình tượng của một người quỳ trước bàn thờ
để van vái. Nên CHÚC 祝
là Những lời Van Vái khi cúng tế, thường thì đều là những lời tốt đẹp, đâu có
ai vái những điều xấu bao giờ, nên sau nầy hễ "Nói Những lời Tốt Đẹp Cho Người Khác" thì gọi là CHÚC.
CHÚC còn có nghĩa là Phù Thủy Nam, ta gọi là Thầy Pháp
Thầy Cúng, người chuyên cúng tế ở các đình chùa miếu mạo, bây giờ là Ông Từ,
nói theo chữ là Miếu Chúc 廟祝.
và Ông Từ ngày nay chỉ ở để giữ chùa và ăn ké cơm chùa mà thôi!
Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu:
Quan
thanh thơ lại sấu,
官清書吏廋,
Thần
linh miếu chúc phì. 神靈廟祝肥。
Có nghĩa:
- Ông quan thanh liêm thì người thư ký ốm (vì phải làm
việc nhiều và không có tiền ... hối lộ !). Còn...
- Ông thần mà linh thiêng thì ÔNG TỪ (người giữ chùa)
sẽ mập ra (Vì có nhiều người đến cúng tế cho mà ăn!).
Những từ được thành lập bởi chữ CHÚC rất nhiểu, nhất
là vào dịp Tết Âm Lịch của ta. Ta thường gặp các từ như ...
- Chúc Xuân,
Chúc Tết,
- Chúc Phúc,
Chúc Thọ.
- Chúc may
mắn, Chúc làm giàu, Chúc mua may bán đắt, Chúc An Khang Thịnh Vượng... Chữ CHÚC
đã được Việt hóa thành chữ NÔM và mất đi Ý nghĩa ban đầu là Lời VAN VÁI.
Chữ được thành lập theo lối Chỉ Sự còn rất nhiều, trên
đây chỉ là những chữ tiêu biểu, và ... không riêng gì chữ Hán cổ, trong dân
gian ta cũng có những câu chuyện Chỉ Sự về ngôn ngữ vô cùng lý thú ...
Xin mời cùng đọc một Bức Thư Chỉ Sự độc đáo sau đây...
....
Ngày xưa, có một anh lính thú ở xa, nhân có bạn được phép về thăm nhà, mới nhờ
bạn đem về cho vợ ở nhà trăm quan tiền và một bức thư.
Giữa
đường, anh bạn tò mò giở thư ra xem, không thấy ghi số tiền gửi là bao nhiêu cả,
chỉ thấy vẽ bốn con chó, một hình bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe,
nên nảy ra cái ý ăn bớt. Về đến nơi, anh ta chỉ giao cho vợ bạn bức thư và bốn
chục quan thôi.
Người vợ xem
thư biết thiếu tiền, lên quan nhờ phân xử. Quan hỏi :
- Chồng chị gửi người ta bốn mươi quan tiền, người ta
mang về đưa tận tay cho, còn kiện cáo nỗi gì?
Người vợ đáp:
- Bẩm quan lớn, anh ta ăn bớt ạ! Chồng con gửi cho con
tới một trăm quan kia ạ!
- Sao chị biết?
- Bẩm quan lớn, thư chồng con viết rành rành ra đấy
xin quan xem thư, sẽ rõ!
Quan giở bức thư quái gở kia ra xem, không hiểu gì cả
liền hỏi:
- Thế là thế nào? Bức thư không có chữ nghĩa gì cả,
sao chị lại biết chồng chị gửi một trăm quan?
- Bẩm quan lớn, chồng con vẽ rõ ràng ra đấy. Bốn con
chó là tứ cẩu, cẩu là cửu, tứ cửu là tam thập lục, là ba mươi sáu (36 ). Bát
quái có tám cạnh, bát bát là tám lần tám vị chi là lục thập tứ, là sáu mươi tư
(64). Sáu mươi tư với ba mươi sáu chả là một trăm quan đó sao?
Quan cho là phải, bắt anh kia phải trả đủ số tiền.
Nhưng ngài còn thắc mắc hỏi chị kia:
- Thế còn hai con dê và cái chũm choẹ là ý thế nào?
Chị ta sượng sùng không nói. Quan hỏi mãi mới thưa:
- Ðấy là nhà con vẽ đùa thôi ạ !.
- Ðùa thế là có ý gì, phải nói ra cho rõ ràng.
- Bẩm quan lớn, hai con dê và cái chũm chọe là nhà con
muốn hẹn con rằng, đến Tết Trùng Dương (ngày 9 tháng 9, còn gọi là Trùng Cửu)
thì nhà con sẽ về thăm cái chũm chọe, ơ... không, thăm con… đấy ạ!
Đó, ta thấy CHỈ SỰ hay là thế, thú vị là thế, ngày xưa
nước ta cũng đã có vô vàn cách Chỉ Sự để truyền đạt ý nghĩa và sự việc một cách
độc đáo của riêng mình rồi!
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức