BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI ẤT TỴ 2025 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn LA THỤY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LA THỤY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối (+4 nét)
Lục thư: hội ý
Hình thái: 毌貝
Nét bút: フフ丨一丨フ一一一ノ丶

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết  chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

BAO LA, MÊNH MÔNG, BÁT NGÁT GIỐNG VÀ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? La Thụy sưu tầm và biên tập



BAO LA
 
Chúng ta thường dùng “bao la” để chỉ thứ gì đó “rộng lớn đến mức vô cùng tận” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), chẳng hạn như “vũ trụ bao la”, “biển rộng bao la”… Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này không hẳn ai cũng rõ.
 
Thực tế, “bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.
 
Nói đến không gian rộng lớn, ta còn có từ “bát ngát". Thực tế, từ này vốn có nghĩa gốc là “thương nhớ, lo buồn" (xem Tiếng Việt ân tình, tập 1)
Tóm lại, “bao la” là một từ gốc Hán, có nghĩa đen là “cái lưới bao trùm tất cả”.
                                                                                Lê Trọng Nghĩa
 
Bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:
Bao” () là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”
La” () nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa võng”, “la liệt".
Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.

*
Phiếm luận của La Thụy:
 
Từ định nghĩa trên, tôi liên tưởng đến Thánh kinh: “Ta là Alpha (A) và là Ômêga(Ω), là Khởi nguyên và là Cùng tận!”
Điều này nói lên rằng Vua Giêsu Kitô là căn nguyên và cùng đích của mọi loài. Trước khi tạo dựng vũ trụ này, Người đã hiện hữu; và khi vũ trụ này qua đi, người vẫn hiện hữu.
Chúa là Vua Vũ Trụ, Chúa là Alpha và Ômêga, là Đấng Toàn Năng.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

SÁCH QUÝ NHẬN ĐƯỢC TRONG THÁNG 11.2025 – Ngô Hương Thủy

Nhà văn Ngô Hương Thủy viết về tập sách CHỮ NGHĨA VĂN CHƯƠNG của La Thụy.
 

* Đất khổ thường nẩy sinh người tài. Tiếp nối những Nguyễn Hữu Liêm, Lê Trạch Cam, Nguyễn Đức Tùng… Hôm nay chúng ta có thêm La Thụy, bút danh của Đoàn Minh Phú.
 
Từ quê nghèo Quảng Trị, sau Mùa hè đỏ lửa, cậu bé đi theo đoàn lưu dân vào Nam tìm đất sống. Ở vùng kinh tế mới La gi - Bình Thuận, vượt qua bao gian khổ, La Thụy đã vươn lên, trưởng thành với nghiệp nhà giáo - nhà văn - nhà nghiên cứu.
 

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

TÔI ĐỌC “CHỮ NGHĨA VĂN CHƯƠNG” CỦA LA THỤY- Nguyễn Văn Trị



Mình nhận được tác phẩm "Chữ Nghĩa Văn Chương" của nhà văn La Thụy (Đoàn Minh Phú) gửi tặng qua đường bưu điện, cùng lời nhờ chuyển tặng đến một vài thầy cô và bạn đồng môn.
Trước hết xin cám ơn tình cảm bạn dành cho mình và cũng có vài cảm nhận sau khi đọc (dù tuần lễ này khá bận rộn).
 
Về tác giả La Thụy
 
La Thụy là bút danh của Đoàn Minh Phú, cựu học sinh trường TH Nguyễn Hoàng Quảng Trị niên khoá 1968 -75, giáo viên về hưu tại La Gi, Bình Thuận (cũ).
Ngoài công việc giảng dạy, anh dành trọn đam mê cho văn chương, thể hiện qua vai trò thành viên Hội Văn học Nghệ thuật Bình Thuận và là đồng quản trị trang blog Văn Nghệ Quảng Trị (cùng anh Nguyễn Khắc Phước, cựu học sinh Nguyễn Hoàng khóa 64-71). Trang blog này là nơi giới thiệu những cây bút có gốc gác quê hương Quảng Trị và các tỉnh miền Trung, kho lưu trữ bài viết được chọn lọc từ năm 2008 đến nay.
 

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025

KIM DUNG VIẾT “TRIỆU MINH” HAY “TRIỆU MẪN”? - La Thụy sưu tầm và biên tập

Nhiều người cho rằng dịch giả Từ Khánh Phụng trước 1975 trong bản "Cô gái đồ long" dịch sai tên nhân vật là TRIỆU MINH 趙明. Các bản dịch "Ỷ thiên đồ long ký" hiện nay nhân vật này là TRIỆU MẪN 赵敏
 

Facer John Tran lên tiếng: 
"Bản gốc đăng lần đầu trên Minh Báo viết 趙明 TRIỆU MINH, bản phim do TVB sản xuất năm 1978 cũng ghi tên nhân vật là 趙明  TRIỆU MINH,
Kim Dung không đặt’ thì ai đặt? Trước khi chỉ trích dịch giả, làm ơn tìm hiểu bản gốc của đoạn mình đang chỉ trích."
 
Tự điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi:
 
"Trong bản in lần thứ nhất của Ỷ thiên đồ long ký, Triệu Mẫn có tên là Triệu Minh (Zhao Ming), tên thật là Minh Minh Đặc Mục Nhĩ (Mingming Temür), phong hiệu là Triệu Minh quận chúa. Trong bản in lần thứ hai, Triệu Minh đổi tên là Triệu Mẫn (Zhao Min) 赵敏, tên thật là Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ (Minmin Temür), phong hiệu là Triệu Mẫn quận chúa. Triệu Minh hay Triệu Mẫn đều là tên Hán do cô tự đặt cho mình.
Kim Dung miêu tả về Triệu Mẫn như sau: "Xinh đẹp vô cùng, nhan sắc diễm lệ, mặt sáng như ngọc, mắt trong như nước, nét cười dịu dàng, diễm lệ. Chỉ trong một hai câu nói cũng không thể miêu tả được hết vẻ đáng yêu, thuần khiết và xinh xắn của nàng".
 
Hình lấy từ trang face của John Tran

Triệu Mẫn quận chúa có sắc đẹp, kiêu hãnh, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người, được cha hết mực nuông chiều, mời nhiều cao thủ võ lâm về dạy võ công cho nàng, lại cho phép nàng tự do đi lại trên giang hồ. Trong số các thuộc hạ của Triệu Mẫn có các nhân vật võ công rất cao cường như Huyền Minh Nhị Lão, A Nhất, A Nhị, A Tam... Chính vì thế mà nàng rất độc ác, bắt nhốt các người của lục đại môn phái, rồi còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.
 
Triệu Mẫn xuất hiện lần đầu trong tác phẩm khi sử dụng Thập Hương Nhuyễn Cân Tán (十香軟筋散) để đầu độc người của Lục đại môn phái trong võ lâm, tàn Sát Thiếu Lâm tự, giả dạng Trương Vô Kỵ lên đánh Võ Đang nhắm vào Trương Tam Phong, lừa Trương Vô Kỵ vào Ngục Tối, lừa bắt võ lâm nhốt vào Vạn An Tự, bao gồm cả Võ Đang thất hiệp và Diệt Tuyệt Sư Thái của phái Nga Mi. Họ đều bị Triệu Mẫn bắt và giam giữ trong Vạn An tự. Khi thấy lục đại môn phái đã đình chiến với Minh giáo, Triệu Mẫn đã quyết định dụ Trương Vô Kỵ, chưởng môn mới của Minh giáo, vào bẫy để bắt trọn. Cô dụ Trương Vô Kỵ đến Lục Liễu sơn trang, trong khi Vô Kỵ không hề biết thân phận thật sự của cô. Sau đó, Triệu Mẫn để lại thanh Ỷ Thiên kiếm và vào trong. Mọi người tò mò, rút thanh kiếm ra thì hóa ra đó là một thanh kiếm gỗ thơm ngát và sau đó khi ra khỏi sơn trang tất cả đều cảm thấy choáng váng vì trúng độc. Khi Trương Vô Kỵ quay lại sơn trang, xin Triệu Mẫn thuốc giải độc, cô bèn lừa Trương Vô Kỵ rơi vào hầm tối, nhờ trí thông minh chàng đã thoát khỏi bàn tay của Triệu Mẫn, đem thuốc giải độc về cứu quần hùng Minh giáo.
 

Triệu Mẫn cũng cho thấy sự khôn ngoan của mình khi lừa được các nhân sĩ võ lâm các phái phô bày các chiêu thức của họ và học trộm võ công các phái. Cô nói dối rằng cô sẽ để cho họ tự do nếu họ đánh thắng được người của cô, trong khi mình thì học trộm chiêu thức của đối phương, những người cứng rắn sẽ bị cô chặt đứt rời một ngón tay. Mặc dù là kẻ thù của Trương Vô Kỵ, nhưng cô lại phải lòng chàng. Cô đã đem Hắc ngọc đoạn tục cao tặng cho chàng để chàng chữa trị vết thương cho tam sư bá, chuộc lại lỗi lầm cho cha mẹ mình ngày xưa. Thông minh, chân tình, Triệu Mẫn trước sau vẫn giữ cốt cách của một phụ nữ giàu tình cảm hơn là một quận chúa Mông Cổ. Cô đánh nhau với Trương Vô Kỵ khi Trương Vô Kỵ cứu Võ Lâm thoát khỏi đám cháy của Vạn An Tự, khi Trương Vô Kỵ đang từng bước lấy được lòng tin của Võ Lâm về Minh Giáo thì Triệu Mẫn lại mời chàng cùng mình uống rượu sau một cuộc chiến máu tanh khiến quần hùng không khỏi có ý nghĩ nghi ngờ Trương Vô Kỵ, lại ra quán rượu ngồi đợi chàng trai, mong cùng đối ẩm với nhau mấy chung và quên hết những chuyện đốt chùa, giết người Mông Cổ, cứu quần hùng Trung Hoa của tập thể Minh giáo.
 
Cuộc đời của cô là một chuỗi tháng ngày rong ruổi theo tình yêu. Cô đã yêu cầu cho mình được đi theo trong các chuyến đi, như là một trong ba điều kiện cô bắt Vô Kỵ phải hứa nếu muốn cô thả các nhân sĩ võ lâm ra. Ở Linh Xà đảo, cô tỏ tình với người mình yêu cũng rất mạnh mẽ nhưng không kém phần chân thành, giản dị, đáng yêu, không e dè khép nép như những cô gái Trung Hoa. Cô đã cầm Ỷ thiên kiếm, lăn xả vào đám sứ giả Ba Tư và đánh những chiêu cận chiến có thể khiến mình và kẻ thù cùng chết để cứu chàng Trương Vô Kỵ. Khi Vô Kỵ hỏi tại sao cô liều mạng như vậy, cô đã trả lời thẳng thắn: vì Trương Vô Kỵ ôm lấy Ân Ly trước mặt cô. Thời thơ ấu, Vô Kỵ đã cắn vào bàn tay Ân Ly một cái đến chảy cả máu, khiến Ân Ly nhớ hoài hình bóng Trương Vô Kỵ. Triệu Mẫn cũng làm như thế: cô cắn vào tay Trương Vô Kỵ một cái để Trương Vô Kỵ nhớ cô trọn đời. Thực ra cô không làm như vậy thì cũng đủ để Vô Kỵ chọn cô làm người bạn gái tâm đầu ý hợp. Nhưng sau đó, cô đã bị Vô Kỵ hiểu lầm là người đã giết Ân Ly và đánh cắp hai thanh Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao. Sự thật, chính Chu Chỉ Nhược, người lấy được mật tịch trong 2 thanh kiếm, đã đổ oan cho cô. Khi Trương Vô Kỵ gặp lại Triệu Mẫn, chàng đã muốn giết cô nhưng không thể vì chàng nhận ra là đã yêu cô.
 
Theo diễn biến của câu chuyện, tình cảm ôn nhu giữa Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ngày càng nảy nở, mặc dù họ bị ràng buộc trong tình yêu tay ba với Chu Chỉ Nhược. Khi Vô Kỵ quyết định cưới Chỉ Nhược, Triệu Mẫn đã xuất hiện để ngăn cản và bắt chàng phải thực hiện điều kiện thứ hai là chàng không được kết hôn với Chỉ Nhược. Lúc đầu, Vô Kỵ từ chối, nhưng về sau, chàng lại chấp thuận khi Triệu Mẫn nói với chàng rằng cô biết tung tích của Tạ Tốn, nghĩa phụ của chàng. Tức giận, Chu Chỉ Nhược đã dùng Cửu Âm Bạch Cốt Trảo để đánh cô nhưng được Vô Kỵ cứu thoát. Sau này, khi Vô Kỵ đã bị vây, sắp bị quân Nguyên bắt, cô đã nói dối cha và anh rằng nếu họ giết Vô Kỵ thì cô cũng tự tử theo chàng cho trọn mối tình.
 
Cuối cùng, Trương Vô Kỵ nhận ra rằng Triệu Mẫn mới chính là tình yêu đích thực của đời mình. Cả hai quyết định rửa tay gác kiếm, rút khỏi giang hồ sau khi Vô Kỵ tưởng rằng thuộc cấp của chàng định âm mưu giết chàng để tranh giành quyền lực. Chàng đã nhường lại chức giáo chủ Minh giáo cho Quang Minh tả sứ Dương Tiêu, quay về Mông Cổ theo lời hứa mà Vô Kỵ hứa với Chu Nguyên Chương, sống một cuộc sống mới giản dị và hạnh phúc bên Triệu Mẫn đến suốt đời. Trong tập cuối, Triệu Mẫn yêu cầu Vô Kỵ thực hiện điều kiện thứ ba là mỗi ngày, đều giúp cô kẻ chân mày."
 
                                                             La Thụy sưu tầm và biên tập

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2025

VÀI LỜI VỚI ANH LA THUỴ NGƯỜI TẶNG SÁCH - Trương Công Hải



La Thụy, một đồng môn không quen nhưng biết, do đọc bài của anh trên facebook.             
Nhận được tập tạp luận Chữ Nghĩa Văn Chương của anh khi đang ngồi café, mấy bạn cứ chuyện trò, còn tôi thì tranh thủ đọc, lướt vội.
Sách do Hội Nhà Văn xuất bản, trình bày không hoa hoè, giản đơn nhưng đẹp.
 

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2025

CHÚC MỪNG VÀ CẢM ƠN NHÀ THƠ LA THUỴ - Trần Mai Ngân



Vượt gần 300km khoảng cách Bình Thuận và Vĩnh Long, hôm qua 25/6/2025 quyển Tạp Luận CHỮ NGHĨA VĂN CHƯƠNG của tác giả La Thuỵ đã đến địa chỉ nhà tôi.
 
Cầm quyển sách trên tay, cảm nhận đầu tiên là sự nền nã, nhã nhặn nhưng không kém phần trang trọng trong việc thiết kế bìa về kích cỡ và màu sắc - tất cả rất hài hoà.
Quyển sách gồm 211 trang với 23 bài tham luận gồm nhiều chủ đề nhưng đều liên quan đến văn chương thật lí thú.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

PHONG, LAO, CỔ, LẠI THỰC SỰ LÀ NHỮNG BỆNH GÌ ? – La Thụy


瘋和尚 Phong Hòa Thượng (ông sư điên)

“Phong, lao, cổ, lại” từ xưa được cho là “tứ chứng nan y”, hiện có nhiều cách giải thích không thống nhất.

*
Cách hiểu được số đông chấp nhận là 4 bệnh khó chữa lành theo quan niệm của y học cổ, gồm:

(1) Phong: tức là bệnh cùi, còn gọi là bệnh phung hay bệnh hủi; 
(2) Lao: ho lao, bệnh lao phổi;
(3) Cổ: xơ gan cổ trướng;
(4) Lại: tức là ung thư.
Trong đó, có hai bệnh đã được y học ngày nay chữa lành là phong và lao.
 
Để minh chứng cho cách giải thích trên, người ta đã đưa ra câu nói dân gian: “Phong, lao, cổ, lại; tứ chứng nan y, thầy thuốc bỏ đi, trống kèn kéo tới”. Có nghĩa là 4 bệnh không chữa được, thầy thuốc “bó tay”, chỉ có chết.
Nhưng LẠI được cho bệnh ung thư thì quá mới, ung thư không phải là chứng bệnh trong y học cổ truyền.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

LẮNG NGHE “THƠ ĐỜI NGÂN VỌNG” CỦA LA THỤY – Minh Trí

Nguồn: 
https://baobinhthuan.com.vn/lang-nghe-tho-doi-ngan-vong-130225.html


“Thơ đời ngân vọng” là tên tập thơ của tác giả La Thụy (tên thật: Đoàn Minh Phú) Hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật Bình Thuận, tập hợp 45 bài thơ, trong đó có 17 bài thơ Đường luật (gồm 12 bài thất ngôn bát cú, 5 bài thất ngôn tứ tuyệt), 14 bài lục bát cùng các bài ở những thể thơ khác.
 

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY - La Thụy sưu tầm và biên tập


              
                                     La Thụy


           CÂU ĐỐI TẾT XƯA VÀ NAY
                        La Thụy sưu tầm và biên tập

    Tiêu đề của bài viết là CÂU ĐỐI TẾT nhưng hình minh họa đầu tiên không phải là câu đối và cũng không đề cập gì đến Tết. Hơn nữa, hình thức trình bày lại bất cân phương như dạng thơ lục bát. Vâng, đó chính là hai câu: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” trích trong bài thi kệ “Cáo Tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền sư. Tuy không phải là câu đối nhưng chữ thư pháp quá đẹp. Hơn nữa ý thiền tràn ngập, hương xuân thơm ngát nên tôi đưa lên trên các câu đối khác.

           
             Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
             Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
                          (Mãn Giác thiền sư)


                       

                     Nguyễn Tôn Nhan 
                       (1948 - 2011)

      

   

  

  

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                            Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
                            Phúc sinh phú quý tử tôn vinh

Ở câu đối này, chữ PHÚ () trong vế đối thứ hai (phía trái), người viết thư pháp viết nhầm thành chữ PHÚC ()
Không những chỉ riêng câu đối này, một số câu đối khác cũng không được chuẩn lắm.
Ví dụ câu đối: “Xuân tha hương sầu thương về QUÊ mẹ / Tết xa nhà buồn bã nhớ QUÊ cha”, bị lặp từ QUÊ và cùng thanh bằng trong mỗi vế. Nếu chỉnh lại ĐẤT MẸ thì đối chuẩn hơn.
Hoặc câu: “Niên hữu tứ thời xuân VI thủ / Nhân sinh bách hạnh hiếu VI tiên”. Câu đối gốc vốn là "xuân TẠI thủ"
Nhìn chung, ngoài những câu đối của các nhà nho, nhà thơ nổi tiếng, vẫn còn một số câu đối còn chưa chỉnh về từ loại, về ý, về thanh, … tôi sưu tầm và tải lên để thư giản trong những ngày cuối năm. Chúc quý bạn có nhiều niềm vui nhé!

                                                           La Thụy sưu tầm và biên tập

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2025

CHÙM THƠ XUÂN CỦA LA THỤY

 
   

 
TỰ CẢM CUỐI NĂM
 
 Dặm trường rong ruổi ngựa phi
 Thời gian vút cánh xuân thì hụt hao
 Chồn chân dừng bước bên cầu
 Lặng nhìn nước chảy nuối màu tóc xưa
 Cánh buồm lộng gió ước mơ
 Băng qua sông biển cập bờ nơi nao?
 Vọng âm sóng vỗ dạt dào
 Bên chiều đông tận nắng đào dần phai
 Hoa tóc sương muối đang cài
 Tàn niên tự cảm thoảng bay tiếng lòng
                               
 
 CUỐI NĂM ÂM LỊCH
(Cảm đề thơ Đá Ngây Ngô)
 
Xuân về lâng lâng nào nhờ gió chở
Đáy cốc vênh hay rượu ngấm ngã nghiêng
Thèm trái cấm lòng vướng bận nghiệp duyên
Loan phụng múa tình ai đang khép mở.
 
Mắt xanh trắng tri âm còn níu mộng
Bến xuân ơi lưu luyến cõi trời xưa
Sương khói phủ bâng khuâng xuân không mùa
Thầm nguyện ước cho nguồn yêu mở rộng.
 
Ngọn nến ấy lung linh trời ảo diệu
Hương xưa nào thoang thoảng ủ tình mơ
Để ngây ngất tình tràn thơm men rượu
Hào sảng cười đồng vọng đá ngây ngô.
                                             
 
TÀN NIÊN CẢM TÁC
 
I.
Tơ xuân vương vấn đất trời
Hồn xuân bảng lảng thoảng lời mê hoa
Suốt đời mộng mị là ta
Mắt xanh nhẹ chớp nhạt nhòa tri âm.
 
II.
Chưa say nhưng dáng dật dờ
Hồn mê trí tỉnh mệt phờ xác thân
Chào nhau nửa tiếng ân cần
Khóe môi hé nụ bộn lần nhớ thương.
 
III.
Thôi xin đừng nói tỉnh mê
Thế nhân mắt trắng mệt mề đớn đau
Mơ say quên lấy nỗi sầu
Rộn ràng thế sự dãi dầu lo toan.
Cho ta ít phút thanh nhàn
Câu thơ bất chợt xuất thần thăng hoa.
 
 
VÔ THƯỜNG
(Cảm khái khi đọc truyện thần thoại Hy lạp)
 
Một thời vang bóng còn đâu
Khói sương chừ lại úa màu thời gian
Một thời xuân sắc nhựa tràn
Nhành xanh biếc lộc, hoa vàng thắm cây
Nắng chiều xế bóng hao gầy
Xiêu theo triền dốc ngấm say vị đời
Tiếng lòng ngân vọng chơi vơi
Âm xưa bóng cũ mù khơi dấu tìm
 
                                    
DƯỜNG NHƯ
 
Dường như bóng xế đường trần
Dường như cuộc sống thanh bần rồi qua
Dường như tóc muối sương pha
Dường như phấn bảng đang là vọng âm
Bên chiều một thoáng trầm ngâm...
 
*
THƠ ĐƯỜNG LUẬT
 
 
TÂN NIÊN KHAI BÚT
 
Nâng chén hòa vui ấm giọng ca
Ý tình thao thiết bút thêu hoa
Mai e ấp nụ ươm vàng nắng
Sen khẽ khàng hương ủ đượm trà
Bấc lạnh nỗi niềm đông tận nhỉ!
Rượu nồng sắc vị xuân khai a!
Lâng lâng thi tứ tươm trào giọt
Cánh mộng dần bay vào thẳm xa.
                                 
 
THƯỞNG XUÂN
 
Mai vàng đào thắm toả hương hoa
Tết đến vui xuân nào chỉ ta
Cùng hát cùng đàn, vài cốc rượu
Cũng ngâm cũng vịnh, dăm ly trà
Xôn xao tình gợn hồn đang trẻ
Xao xuyến thơ ngân ý chửa già
Khai bút lòng bừng bao nắng ấm
Bên thềm lãnh lót yến oanh ca.

 
 
Buốt lạnh tàn đông rồi cũng qua
Khoan thai xuân đến ấm bao nhà
Bâng khuâng nắng mới lừng hương tết
Biêng biếc chồi xanh thắm sắc hoa
Danh lợi: chán chê vòng tục lụy!
Rượu thơ: ngây ngất thú yên hà!
Thả hồn bay bổng cùng trăng nước
Hào sảng hát vang khúc túy ca.
 
                                   La Thuỵ

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2024

VOI BIỂN LÀ “HẢI TƯỢNG” HAY “HẢI MÔ ? - La Thụy sưu tầm và biên tập

 



          VOI BIỂN LÀ “HẢI TƯỢNG” HAY “HẢI MÔ ?

Câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn, khi mà ai cũng biết từ Hán Việt “tượng” là voi, tất nhiên VOI BIỂN phải là HẢI TƯỢNG. Nhưng, không phải tự dưng tôi đặt ra câu hỏi “ngớ ngẩn” trên. Việc gì cũng có nguyên do cả (như “nguyên lý túc lý” trong triết học).

Năm 1967, tôi học lớp nhất (tương đương với lớp năm hiện nay). Khi học môn Khoa Học Thường Thức, bài “động vật Bắc cực” thấy giới thiệu về gấu trắng, hải cẩu và hải mã. Nhìn hình vẽ thì con hải mã to lớn và đặc biệt có 2 cái ngà nhọn hoắt chỉa ra từ miệng. Sách Khoa Học Thường Thức lớp nhất hồi đó cho biết HẢI MÃ nặng trung bình 1,5 tấn. Tôi tự hỏi con vật to lớn, có ngà trông giống con voi, chẳng giống ngựa tí nào, tại sao không có tên là HẢI TƯỢNG mà lại mang tên HẢI MÃ. Bẵng đi một thời gian dài, đọc sách báo, tôi thấy có đề cập đến HẢI TƯỢNG. Tôi truy cập tìm hiểu “hải tượng” là con vật như thế nào, quả nhiên như suy nghĩ của tôi thời tiểu học: HẢI MÃ còn được gọi là hải tượng.