BÂNG KHUÂNG

CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cổ ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cổ ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

CHIẾT TỰ CHỮ PHONG 豊 - Dịch Thuật Hán Nôm



Hán–Việt: Phong
Nghĩa Việt: Phong phú, dồi dào, đầy đủ; sung túc, thịnh vượng.
Phiên âm (Pinyin): fēng

Chữ 豊 (Hán–Việt: Phong) là một chữ Hán mang nghĩa phong phú, đầy đủ, dồi dào và thịnh vượng. Chữ này gợi lên hình ảnh lễ vật, của cải được bày biện đầy đủ, từ đó biểu thị trạng thái sung túc, phong thịnh. Nghĩa của chữ 豊 không chỉ dùng để nói về vật chất dồi dào mà còn có thể mở rộng sang sự phong phú về tài năng, tri thức, đức hạnh và đời sống tinh thần.

Theo hình thể chữ Khải, chữ 豊 gồm hai thành phần: 曲 + 豆
Chữ 曲 (Khúc) mang nghĩa cong, uốn, khúc; trong hình thể của 豊, phần này nằm phía trên và góp phần tạo nên hình dáng tổng thể của chữ.
Chữ 豆 (Đậu) vốn là hình một loại đồ đựng dùng trong nghi lễ thời cổ, thường dùng để đựng lễ vật. Trong chữ 豊, 豆 gợi hình ảnh một vật chứa lễ được đặt bên dưới phần 曲.
Có thể trình bày: 豊 = 曲 + 豆
Khi kết hợp 曲 + 豆, có thể gợi nên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy đặn, biểu thị sự đầy đủ và sung túc.
豆 gợi hình ảnh vật chứa lễ vật, còn 曲 góp phần tạo nên hình thể của chữ. Từ hình ảnh lễ vật đầy đủ trong các nghi lễ cổ, chữ 豊 phát triển thành những ý nghĩa như phong phú, dồi dào, sung túc và thịnh vượng.
Vì vậy, 豊 có thể được ghi nhớ qua hình ảnh: “Lễ vật đầy đủ, của cải dồi dào → phong phú, sung túc.”

Các từ ngữ quen thuộc có chữ này
豊富 (Phong phú): dồi dào, nhiều và đa dạng.
豊饒 (Phong nhiêu): màu mỡ, sản vật dồi dào, phong phú.
豊盛 (Phong thịnh): đầy đủ, sung túc, thịnh vượng.
豊年 (Phong niên): năm được mùa, mùa màng dồi dào.
豊穣 (Phong nhượng): mùa màng phong phú, sản vật dồi dào.
豊滿 (Phong mãn): đầy đặn, sung mãn, đầy đủ.

Nhìn từ góc độ chiết tự, 豊 = 曲 + 豆 gợi lên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy, tượng trưng cho sự đầy đủ và sung túc. Hình ảnh ấy giúp người học dễ liên tưởng đến ý nghĩa phong phú, dồi dào, thịnh vượng của chữ.

Vì vậy, chữ Phong 豊 không chỉ gợi đến sự giàu có về vật chất mà còn có thể được hiểu rộng hơn là một trạng thái đầy đủ và dồi dào trong cuộc sống. Một đời sống “phong” không nhất thiết chỉ nhiều của cải, mà còn có thể là phong phú về tri thức, giàu có về tình nghĩa và đầy đặn về đức hạnh.
 
                                                                     Dịch Thuật Hán Nôm

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

KHẢI HOÀN 凱還 – Bài viết của Ung Chu


- khải 凱: khúc nhạc mừng khi quân đội chiến thắng trở về, hoán dụ chỉ chiến thắng, thắng lợi, có liên quan chữ "khải" 愷 nghĩa là vui mừng

- hoàn 還: trở về, như trong "châu hoàn Hợp Phố" 珠還合浦 (châu về Hợp Phố), "hoàn hồn".

"Khải hoàn" 凱還 nghĩa là thắng trận trở về, đây là từ lâu đời trong Hán ngữ. Bài ca mừng thắng trận trở về là "khải ca" 凱歌, "khải hoàn ca" 凱還歌. Tuy nhiên, trong tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Hàn, người ta thường dùng từ "khải toàn" 凱旋. "Toàn" 旋 nghĩa là quay tròn, quay lại, quay về.

Cổng vòm Arc de Triomphe (arc de triomphe de l'Étoile) là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Pháp, toạ lạc giữa Quảng trường Charles-de-Gaulle (tiếng Pháp: place Charles-de-Gaulle) tại thủ đô Paris, trước đây gọi là Quảng trường Étoile (tiếng pháp: place de l'Étoile). Người Việt Nam gọi Arc de Triomphe là Khải Hoàn Môn (danh từ riêng).

Cổng này thuộc dạng công trình cổng chào mừng chiến thắng ở châu Âu, kế thừa kiến trúc La Mã cổ đại, ta gọi chung là các "khải hoàn môn" 凱還門 (danh từ chung). Tiếng Pháp gọi là "arc de triomphe" với "arc" chỉ cổng vòm, "triomphe" nghĩa là chiến thắng, tiếng Anh gọi là "triumphal arch" (triumph: chiến thắng, thắng lợi lớn; arch: cổng vòm).

Trong khi người Việt Nam gọi "Khải Hoàn Môn" và "khải hoàn môn", thì các ngôn ngữ kia gọi là "Khải Toàn Môn" 凱旋門 và "khải toàn môn" 凱旋門. Tiếng Nhật đọc là "gai-sen-mon" がいせんもん, tiếng Hàn đọc là "gae-seon-mun" 개선문, tiếng Trung Quốc viết giản thể là 凯旋门.

                                                                        Bài viết của Ung Chu

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập



Đi Đà Lạt chơi với công ty của con trai đầu, mình mua vội một chai dầu gió. Thấy ghi 3 chữ Hán 上標油, mình tò mò đọc “Thượng tiêu du”.
上 “thượng” nghĩa là “bên trên”, thì dễ hiểu thôi.
油 “du” nghĩa là “dầu” cũng dễ hiểu.
Nhưng 標 “tiêu” nó ẩn nghĩa gì ?
Mình tra thử từ điển Hán Việt để rõ.
Thì ra 標 có nhiều cách đọc như : “tiêu, phiêu, biểu” có nghĩa là “ngọn”, “khuôn mẫu”, “cây nêu”
Tên chữ Hán in trên hộp, trên chai của dòng dầu gió Siang Pure Oil (thường gọi là dầu ông già Thái Lan) là 上標油 , phiên âm Hán Việt đọc là “Thượng Tiêu Du”.

Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).

1. Nguồn gốc tên gọi
 
Thương hiệu dầu gió “Ông Già” Thái Lan Siang Pure Oil có nguồn gốc sâu xa từ công thức y học cổ truyền của người Hoa di cư vùng Triều Sán (Quảng Đông).
- Tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew / Siang Pure Oil)
- Chữ Hán in trên hộp, trên chai: 上標油
- Phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú
(đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái).
Thượng Tiêu Du  (上標油) mang ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
 
2. Chiết tự âm Hán Việt
 
Khi dịch chữ Hán 上標油 sang âm Hán Việt, chúng ta sẽ có:
上 (Thượng): Nghĩa là ở trên, cao cấp, danh tiếng.
標 (Tiêu / Biểu): Nghĩa là nhãn hiệu, cột mốc, tiêu chuẩn (trong từ "mục tiêu", "nhãn hiệu").
油 (Du): Nghĩa là dầu, tinh dầu.
 
* Nguồn gốc tên gọi "Siang Pure" liên quan đến chữ Hán:
 
Mặc dù nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là Thượng Phiêu Du (上標油), nhưng cách đọc tiếng Anh Siang Pure lại bắt nguồn từ âm đọc tiếng Triều Châu của một cụm từ Hán khác.
 
 Do người sáng lập thương hiệu này là ông Boonchua Eiampikul - một người gốc nhập cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan.

Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, từ phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú  (đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái). Nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là 上標油 với âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du,  “Thượng Tiêu Du”, “Thượng Biểu Du”.
 
Trong tiếng Anh chữ “Pure”  có nghĩa là tinh khiết, nguyên chất hoặc thuần túy…
“Pure Oil” có nghĩa là dầu nguyên chất hoặc dầu tinh khiết, chỉ loại dầu được chiết xuất từ thực vật hoặc động vật mà không bị pha trộn với các chất phụ gia, tạp chất hay dầu nền rẻ tiền khác.
 
Công dụng:
 
Dầu gió đỏ Siang Pure Oil là sản phẩm của Thái Lan dùng để:             
- Giảm cảm lạnh, ngạt mũi, đau đầu, chóng mặt.
- Xoa dịu vết sưng, bầm tím và ngứa do côn trùng đốt .
- Giảm đau cơ khớp nhẹ.
- Giữ ấm cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái.

                                                               La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Phụ chú:

Âm Hán Việt có những cái ngồ ngộ. Trước 1975, khi học môn triết, tôi ngỡ ngàng về một số từ ngữ chẳng hạn YÊN SĨ PHI LÝ THUẦN, sau đó mới hay rằng đó là cách phiên âm Hán-Việt cũ từ chữ Hán 英士斐理純 (do Lương Khải Siêu phỏng dịch) để chỉ từ INSPIRATION (có nghĩa là cảm hứng) ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, trong triết học dùng chỉ trạng thái thăng hoa, linh cảm hoặc nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật.
*
Cũng lạ, PHIÊU 標 là âm Hán Việt của PURE (tiếng Anh), nhưng DU 油 là nghĩa chính của OIL (tiếng Anh).
"Thượng Phiêu Du"上標油 là hỗn hợp của phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh với 
âm Hán Việt của chữ Hán có ý nghĩa trực tiếp !

Tra từ điển Hán Nôm, ta thấy: 油 (DU)

- Âm Hán Việt: du
- Âm Quan thoại: yóu
ㄧㄡˊ, yòu ㄧㄡˋ
- Âm Nôm: dàu, dầu, du, dư, rầu, trầu
- Âm Nhật (onyomi):
ユ (yu), ユウ (yū)
- Âm Nhật (kunyomi):
あぶら (abura)
- Âm Hàn:
유
- Âm Quảng Đông: jau4

Như vậy, "Íu" (hoặc "iêv", "iu"), không phải là phiên âm của chữ DU 油 mà là phiên âm của chữ OIL.
Từ OIL trong tiếng Anh
được người Triều Châu phiên âm thành "อิ๊ว" - phát âm là iu / íw).

Trong tiếng Anh từ YOU được phiên âm quốc tế là /juː/, đọc nhanh nghe như là "du"
Từ THANK YOU được phiên âm quốc tế là /ˈθæŋk juː/, người Việt thường đọc gần đúng là "thanh-kyu" không đọc là ''thanh du'' ...

*
Tên chữ Hán của loại dầu gió này là hỗn hợp âm Hán Việt của chữ Hán như THƯỢNG 上 (Siang), kết hợp phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh PURE (phiêu) và OIL (Ew, íu) thành “Siang-phiêu-iú”, Thượng Phiêu Du (上標油). Đặc biệt, dù phiên âm chữ OIL trong tiếng Anh thành “íu”, họ vẫn viết chữ Hán là DU 油. Chữ PURE trong tiếng Anh, họ viết thành 標 “phiêu” (hoặc “tiêu”)

Dầu gió Siang Pure Oil (上標油) của Thái Lan, do người Hoa di cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan sản xuất. Họ dùng tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew) và tên tiếng Anh Siang Pure Oil để quảng cáo cho thương hiệu dầu gió này, đồng thời ghi chữ Hán上標油 in trên hộp, trên chai với ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

THẮNG 勝 - Bài viết của Trúc Âm, Tri thư đạt lễ



“Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định THẮNG thiên cũng nhiều.”
 
Tiếng Việt có Thắng, chữ Hán viết 勝. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: Thắng là khả năng gánh vác, đảm đương, về sau mở rộng sang nghĩa vượt trội, chiến thắng và những gì nổi bật hơn hẳn.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, Thắng được dùng rất nhiều với nét nghĩa vượt lên, chiếm ưu thế, kết quả thành công như trong các từ chiến thắng, thắng lợi, thắng trận, thắng bại, quyết thắng, bách chiến bách thắng, nhân định thắng thiên,.. Đồng thời Thắng cũng mang nghĩa đẹp đẽ, tốt lành, thường gặp trong những nơi chốn có cảnh sắc đặc biệt như thắng cảnh, danh thắng, thắng địa,...
 
Thắng quyết định kết quả hơn thua giữa hai phía, mang sắc thái của kết quả bên ngoài, song trong tư tưởng phương Đông, chữ này còn ẩn chứa tinh thần tu dưỡng bên trong qua khả năng “tự thắng” - tức khả năng tự đối diện và chế ngự bản thân của con người. Thắng người đời vốn đã khó, nhưng để thắng được chính mình, chế ngự mọi xúc cảm tiêu cực, dục vọng và giới hạn nội tâm thì lại càng khó hơn.
 
Vì gửi gắm mong ước về chí tiến thủ, bản lĩnh vững vàng và khả năng chiến thắng chính mình trước khi chiến thắng người khác, cho nên đây là một cái tên đẹp trong văn hóa đặt tên của người Việt ta.
 
“Thanh tao lịch sự đủ mùi,
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy.
Đâu đâu nam bắc đông tây,
Thăng Long thắng địa, xưa nay tiếng đồn.”
                                                    (Ca dao)
 
層樓閱歷幾星霜,
勝景幽淒已半荒。
齋灶煙消春草茂,
花階露冷谷風涼。
 
Tằng lâu duyệt lịch kỷ tinh sương,
Thắng cảnh u thê dĩ bán hoang.
Trai táo yên tiêu xuân thảo mậu,
Hoa giai lộ lãnh cốc phong lương.
 
Tầng lầu dầu dãi mấy tinh sương,
Thắng cảnh còn đây ngọn suối hoang!
Thềm gạch gió lùa, hơi lạnh lẽo,
Bếp chay cỏ mọc, dấu mơ màng.
(Ngô Thì Nhậm, bản dịch thơ Ngô Sĩ Lâm)
 
三年不吃酒吹煙,
人生無病是真仙。
喜見南方連大勝,
一年四季都春天。
 
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đô xuân thiên.
 
Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên, sướng tuyệt trần,
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân.
(Hồ Chí Minh, bản dịch thơ Khương Hữu Dụng)
 
“Lòng soi mơ ước, trào dông bể
Dạ cháy mưu toan, ngút lửa thành

Thắng, bại, anh hùng, không cứ luận
Mỹ Lương một trận, tử mà sinh!”
                                  (Vũ Đình Liên)
 
                                                                  Bài viết của Trúc Âm
                                                                Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận 潤 là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút 筆 là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

“Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

“Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm

PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" (润 / 潤) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
润 giản thể của chữ 潤

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận” 潤 / 润 :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy (⺡ - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà.腸 / 肠
- Tràng/Trường 腸 / 肠 Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt (⺼ - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly



“Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”
                                   (Truyện Kiều)

Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:

 Xa như lưu thủy, mã như du long 
    車如流水,馬如游龍",

Tạm dịch là: 

Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.

Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen."

"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Song cũng có học giả cho rằng chữ đúng trong nguyên tác là “nen”, ví như trong Truyện Kiều dẫn giải, Lê Văn Hòe giảng nen là một loài cỏ mọc ở ruộng nước, thân nhỏ, mọc thẳng và đặc kín thành từng đám lớn. Vùng đồng chiêm Ninh Bình, Thanh Hóa hễ có nước là có nen, từng cây ken sát nhau đến mức nhìn xa như phủ kín cả mặt ruộng. Vì vậy "áo quần như nen" là người mặc áo quần chen vai sát cánh, đông đặc như bụi cỏ nen ngoài đồng.

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

CỔ VŨ 鼓舞 - Theo Nguồn Gốc Của Từ



Cổ vũ, chữ Hán viết là 鼓舞, trong đó:
– Cổ, danh từ là cái trống, động từ là đánh trống, như đồng cổ (銅鼓) là trống đồng, canh cổ (更鼓) là trống canh, trống báo hiệu từng canh trong đêm (xưa một đêm được chia làm năm canh), cổ xuý (鼓吹) là đánh trống và thổi sáo, ý nói hô hào vận động ai đó làm gì, hiện nay thường theo hướng tiêu cực.
– Vũ là múa, như vũ kiếm (舞劍) là múa gươm, khiêu vũ (跳舞) là nhảy múa, vũ hội (舞會) là tiệc nhảy múa. Chữ này có nhiều trường hợp đồng âm mà ta cần lưu ý như “vũ – 侮” nghĩa là khinh nhờn, coi thường trong vũ nhục (侮辱), “vũ – 宇” chỉ khoảng không gian như trong vũ trụ (宇宙), “vũ – 武” chỉ sức mạnh, uy lực trong vũ khí (武器), “vũ – 羽” chỉ lông chim trong lông vũ, “vũ – 雨” nghĩa là mưa trong hô phong hoán vũ (呼風喚雨).

Cổ vũ là đánh trống và nhảy múa, ý nói khuyến khích, thôi thúc ai đó làm điều gì đó, làm cho ai đó phấn chấn lên. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng “vừa đánh trống vừa múa” kèm theo nghĩa bóng là “vui vẻ khuyên người ta làm”.

Bài Bắc Trấn hỷ vũ (Mừng mưa ở Bắc Trấn) của Lê Quý Đôn có câu:

Tỉnh khước cần lao tranh cổ vũ,
Hưởng tư phong túc cộng bình khang.

省却勤勞爭鼓舞,
享茲豐足共平康。

Tạm dịch:

Vơi hẳn nhọc, đua nhau cổ vũ,
Được mùa này, tất cả an vui.
 
                                                                 Theo Nguồn Gốc Của Từ

MIÊN MAN 綿蠻 - Theo Tri thư đạt lễ 知書達禮

Thật ra Miên man, chữ Hán viết 綿蠻, vốn không phải từ láy như chúng ta hay nghĩ mà là một từ Hán Việt đẳng lập.
 
                                             Hình ảnh: Miên man, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt ngày nay, Miên man thường được hiểu là cái gì đó kéo dài vô bờ bến. Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), Miên man nghĩa là “hết cái này sang cái khác, tiếp liền theo nhau không dứt”. Ví như người ta hay nói “suy nghĩ miên man”, “nỗi buồn miên man”, “tiếng hát miên man”,…

HIỂU NGUYỆT 曉月 - Bài viết của Khánh Ly



Hiểu nguyệt, chữ Hán viết, nghĩa là vầng trăng lúc rạng đông.
Hiểu 曉 là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Nguyệt 月 là mặt trăng. Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như nhật nguyệt, nguyệt quang, nguyệt sắc, nguyệt dạ, nguyệt thực, tuế nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Nguyệt này.

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

NHÀ LAN (LAN THẤT 蘭室) - Bài viết của Khánh Ly




“Nhà lan sum họp bạn mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.”
                     (Bích Câu kỳ ngộ)

Nhà lan, tức Lan thất 蘭室, nghĩa là căn phòng thơm hương lan. Vì Lan vốn là loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao và tao nhã, cho nên đây là một mỹ từ, dùng để chỉ nơi ở thanh nhã của phụ nữ trong văn chương cổ điển, tương tự với những cách gọi khác như Huệ lâu 蕙樓 (lầu huệ) hay Tiêu phòng 椒房 (phòng tiêu).