Trang

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU, RU KHÚC VE TRƯA, NGOẢNH NHÌN HẠ CŨ – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU...
 
Phía biển xa kia là gì ?
Sao cánh buồm xuôi mãi
Chân trời màu đỏ thẫm
Vời vợi mắt hoàng hôn
 
Có hay không niềm bình yên vĩnh cửu
Cánh thiên di lưu trú tận đường trời
Tiếng gọi nào hư thực
Một lần dắt ta đi...
 
Lay đơn độc mùi khói hương không tuổi
Quay mặt lại là bờ bến cũ
Những bông hoa dệt nghìn tia ánh sáng
Cố hương xưa muôn ức tinh cầu
 
Ta tìm bản thể ta
Chưa khôn khuây nỗi nhớ
Trước biển hỏi nghìn câu thinh lặng
Chỉ sóng bạc đầu mãi một ngôn âm...
 

ÔNG NGUYỄN PHI KHANH YÊN NGHỈ TRÊN ĐỈNH NÚI BÁO ĐỨC (CHÍ LINH) - Theo trang Giai Thoại Xưa



Mất ở Trung Quốc, vì sao thân phụ Nguyễn Trãi lại yên nghỉ trên đỉnh núi Báo Đức?
Có một ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đỉnh núi cao ở Chí Linh, muốn lên được đến nơi, có người phải đi từ sáng đến quá trưa mới trở xuống. Con đường ấy vòng vèo qua rừng, có đoạn dốc dựng, có đoạn cây cối che kín lối đi. Thế nhưng suốt nhiều đời qua, hậu duệ dòng họ Nguyễn Quy và những người yêu lịch sử vẫn tìm về nơi ấy để thắp hương cho một bậc đại nho đặc biệt: cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
 

"TÁM" MẤY CHUYỆN VỀ NỐT RUỒI – Đặng Xuân Xuyến



Sáng mấy hôm trước đi làm lại Căn cước ở trụ sở công an phường, anh công an lớn tuổi nhìn tôi ngạc nhiên hỏi: - "Anh mới tẩy nốt ruồi ở bên cánh mũi trái à?". Tôi ngớ người: - "Không! Mình cũng không biết mũi mình có nốt ruồi.". Anh công an ít tuổi nghe tôi nói vậy cứ tủm tỉm cười nhìn tôi đầy nghi hoặc. Tôi vội phân trần: - "Thật mà! Mình không hề biết mình có nốt ruồi ở mũi và cũng không biết tại sao nốt ruồi đó lại biến mất.". Có vẻ 2 anh công an đều không tin lời tôi nói vì việc một người không hề hay biết về một đặc điểm nhận dạng ngay trên khuôn mặt mình suốt mấy mươi năm là một điều vô lý.
 

LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM, VỀ LẠI CÙNG HẠ MUỘN – Thơ Đỗ Anh Tuyến


   

 
LỠ HẸN CÙNG THÁNG NĂM
 
Tháng Năm rồi mà trời trở gió ngang
Chút rét mồ côi đậu trên nhành lá biếc
Anh đứng đợi em, lòng riêng thầm tiếc
Nắng đâu rồi? Để lạnh buốt bàn tay.
 
Cứ ngỡ mùa này phượng đã đỏ hây hây
Sen hồ kia đã bắt đầu xòe cánh mỏng
Ai biết được cái hanh hao se bóng
Lại tìm về giữa mùa hạ chói chang.
 
Áo mỏng chờ nhau, gió tạt ngỡ ngàng
Cái rét ngọt cứ len vào nấc cửa
Em có đến hay em còn lần lựa
Sợ ngoài đường sương muối đọng vai thon.
 
Anh vùi tay sâu trong túi áo sờn
Nghe hơi thở hóa thành làn khói nhẹ
Tháng Năm lạ kỳ, dịu dàng và khe khẽ
Dỗ dành anh bằng một chút heo may.
 
Dẫu có lạnh thêm, anh vẫn đứng đây
Gom hết gió mùa đông vừa lạc tới
Để lúc em sang giữa dòng người mải miết
Ủ ấm bàn tay, bù lại những hao gầy...
 

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

LẮNG LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


  

 
Lắng Lòng

1.
Lắng lòng rót mật vào thơ
Tình yêu tuổi nhỏ dại khờ mới nhen
Lần đầu gặp gỡ làm quen
Bỗng nghe “Tiếng sét…” gọi tên “Ái tình…”
Nắng rơi tia nắng lung linh
Gió bay tà áo dáng hình đắm say
Xin Trời sợi chỉ buộc tay
Tơ hồng kết nối ngày ngày yêu thương
Giọt sương trên lá còn vương
Gió lay khẽ rụng trên đường ướt vai
Tóc dài buông xõa chia hai
Bóng em trong nắng đổ dài tinh khôi…
Em ơi… chiều đã muộn rồi
Hoàng hôn tím cả một trời mênh mang
Lối về tím rụng hoa xoan
Tím màu chung thủy tím man mác buồn…
 
2.
Bây giờ dâu bể dị thường
Cách xa, xa cách bốn phương trời sầu
Vui thời cạn, buồn thời sâu
Nhớ em nỗi nhớ đậm màu thiết tha…
Người ta đi với người ta
Rượu nồng, pháo cưới, xe hoa, áo hồng
Chát chua, chua chát trong lòng
Tình chia hai ngả còn trông đứng ngồi
Nhìn nhau lần cuối rồi thôi
Giang đầu, giang vĩ xa xôi vô thường
Quay lưng chia biệt người thương
Bây giờ hai đứa ngược đường hiu hanh…
Xa nhau từ thưở tóc xanh
Bây giờ gặp lại tóc thành ánh kim
Tình xưa tưởng đã khuất chìm
Mà yêu thương cũ trong tim vẫn đầy…
 
            Nha Trang, tháng  05. 2026
                 LÊ KIM THƯỢNG

MẸ, CHÚT NẮNG ẤM GIỮA MIỀN HƯ KHÔNG – Đặng Xuân Xuyến

(Cảm nhận khi đọc “Mẹ là chút nắng cuối đông” của nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích)

Tác giả bài viết Đặng Xuân Xuyến

Chiều qua, nhận được tập thơ “LỐI VỀ”, món quà quý nhà thơ, nhà giáo Trịnh Đình Bích gửi tặng, tôi ngồi chậm rãi đọc rồi bỗng khựng lại khi gặp bài thơ “Mẹ là chút nắng cuối đông” bởi những hình tượng ẩn dụ vừa lạ vừa quen, nơi “cái nắng cuối đông” mỏng manh lại trở thành biểu tượng bất diệt cho hơi ấm tình mẫu tử. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng hiếu nghĩa mà còn là một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm về lẽ vô thường và giá trị của sự hiện diện - một thông điệp nhân văn mà tác giả đã chắt chiu gửi gắm qua từng nhịp thở của chữ nghĩa.
 
MẸ LÀ CHÚT NẮNG CUỐI ĐÔNG
 
Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông
Đủ làm ấm, để em hồng đôi má
Mấy ai nghĩ yếu mềm như tàu lá
Mà lạt mềm gói chặt cái bên trong
 
Ai tin rằng cái nắng cuối mùa đông
Nhè nhẹ lắm như một làn hơi thở
Mẹ ra sưởi, mẹ ngồi trên bậu cửa
Mà liêu xiêu khi con ở xa về.
 
Không còn nồng như cái nắng hè kia
Không yếu đuối trong mưa phùn ẩm ướt
Mẹ ngồi đó là con còn có được
Sưởi ấm lòng dù chỉ nắng mùa đông.
 
Ừ! Biết rằng tất cả sẽ hư không
Chỉ xin giữ trong hồn hình bóng mẹ
Cao như núi, và rộng nào bằng bể
Xin vo tròn trong một chữ tình con.
 
                              Trịnh Đình Bích

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là . Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ và bên phải là chữ mỹ .
MẸ là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ , nữ là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.
 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

PHẠM THIÊN THƯ QUYẾT “GIỐNG” CỤ NGUYỄN DU - Tuệ Lãng

Vô cùng thương tiếc nhà thơ Phạm Thiên Thư, tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người 'thi hóa kinh Phật' vừa từ trần vào 16 giờ 15 phút chiều nay, 7-5- 2026

Phạm Thiên Thư,  khoái nhất là chuyện ông "rất giống" với cụ Nguyễn Du. Ông kể một tràng: "10 tuổi bố Nguyễn Du mất, tớ cũng vậy. Mẹ Nguyễn Du là một người phụ nữ đất quan họ Bắc Ninh, vợ lẽ dòng thứ hai. Gia đình cụ Nguyễn có bốn anh em, cụ lại sinh hạ được bốn người con (?). Tớ cũng y chang như vậy". Ông còn tâm đắc kể thêm "cụ Nguyễn và tớ đều là tú tài. Cụ Nguyễn lưu lạc 10 năm ở Thái Bình, còn bố tớ quê chính cũng là Thái Bình. Cụ Nguyễn mất năm 1840 (?), đúng 100 năm sau, 1940 tớ ra đời…".

Đọc những bài thơ tình của Phạm Thiên Thư, không ai nghĩ ông đã từng trên 10 năm xuất gia tu hành nơi cửa Phật.

"Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao"
                                   (Động hoa vàng).

Tiếng kêu của loài dị điểu trong thơ ông thật bi thảm, vừa cất lên đã rụng xuống dòng sông rộng. Cái chết sinh ra để phụng hiến tình yêu. Yêu đến buồn chết, thật là khó để người đời hình dung một tu sĩ có đời sống phong kín nơi cảnh chùa lại có ý nghĩ như vậy.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

LUẬN VỀ... TIỀN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến


  

 
LUẬN TIỀN
 
Tiền trao tráo nửa nụ cười
Là bao ân nghĩa cả đời đi tong
Lòng người cuộn nước đục trong
Chữ tâm phó mặc tiền đong phận người.
 
Hà Nội, sáng 21 tháng 04/2026
 
 
LUẬT TIỀN
 
Vì tiền mà đến với nhau
Rồi sau cũng lại hại nhau vì tiền
Thế thời đã sẵn đảo điên
Lụy tiền tiền ắt sẽ nghiền kẻ chơi.
 
Hà Nội, 19 tháng 04/2026
 
 
LỤY TIỀN
 
Kẻ tham danh, đứa hám tiền
Dụ nhau vào cuộc đảo điên chợ đời
Tình thân đã bán rẻ rồi
Đức tài chỉ lớp vỏ bồi giả trang.
 
Hà Nội, chiều 22 tháng 04/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

ĐOÀN THƯỢNG, MỘT TƯỚNG LÃNH CÓ KHÍ PHÁCH CUỐI TRIỀU LÝ – Bài viết của Cảnh



Giữa lúc nhà Lý đã nghiêng ngả, có một người vẫn giữ đất, giữ quân và giữ lòng trung với triều cũ đến tận phút cuối. Người đó là Đoàn Thượng.
 
Trong giai đoạn cuối triều Lý, khi triều đình trung ương gần như mất khả năng kiểm soát, các thế lực địa phương nổi lên khắp nơi, lịch sử Đại Việt bước vào một thời đoạn vô cùng rối ren. Giữa bối cảnh ấy, Đoàn Thượng là một nhân vật rất đặc biệt. Trong chính sử, ông có thể bị nhìn như một hào trưởng cát cứ, một sứ quân làm đất nước thêm chia cắt. Nhưng trong ký ức dân gian, nhất là ở vùng Hồng Châu xưa, ông lại được nhớ đến như một con người có khí phách, có thực lực và có lòng trung nghĩa rất rõ rệt.
 

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

TỪ "GIO" KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG CÁC TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM, CHỮ HÁN, TỰ ĐIỂN CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN! VẬY, "GIO" TỪ ĐÂU? - Nguyễn Chương Mt



* "Gio" (chẳng hạn, trong "Gio Linh") là một hiện tượng ngôn ngữ quái lạ lắm đa!

/1/ Những chữ như "gió", "giỏ", "giò" thuộc về quốc âm tiếng Việt, được ghi trong CHỮ NÔM. Nhưng, "gio" thì không thấy.
Kể cả biến âm từ ngôn ngữ khác thì chữ Nôm cũng ghi lại. Như "Mỹ Tho", "Cần Thơ", "Sóc Trăng" (biến âm từ tiếng Khmer), "Phan Rang", "Nha Trang" (biến âm từ tiếng Chàm) đều được ghi lại bằng chữ Nôm. Muốn hiểu nghĩa thì tra cứu nguyên ngữ tiếng Khmer, tiếng Chàm thì biết.
(mấy chữ trên đây, sách vở đều đã giải thích nghĩa gốc rồi)
Tỉ như "gio" thuộc về biến âm đi nữa, nhưng cũng không thấy ghi lại trong chữ Nôm!

/2/ Chữ Hán thì hoàn toàn KHÔNG có âm HV nào đọc là "Gio", mà chỉ có âm HV đọc "Do". Như trong Đại Nam nhất thống chí, viết bằng chữ Hán, ghi tên địa danh 由靈, âm HV là "Do Linh" - "Do", không "Gio"!

/3/ Còn tự điển chữ Quốc ngữ ĐẦU TIÊN là Tự điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Đắc Lộ (Alenxander Rhodius, tiếng Pháp là Alexandre de Rhodes), xuất bản giữa thế kỷ 17 (năm 1651): hoàn toàn không có mục từ nào ghi “GIO” hết!

/4/ Hiện nay chúng ta viết bằng chữ Quốc ngữ abc, quí bạn gõ "g-i-o" thành "gio" dễ ợt; nhưng "gio" nghĩa gì thì không biết.
Hoặc "gio", rồi "Gio Linh"... có thể là biến âm từ ngôn ngữ khác, vậy từ ngôn ngữ nào để tìm hiểu nghĩa gốc (cũng "quái", cho dù biến âm thì chữ Nôm thông thường vẫn ghi lại, lưu lại kia mà! - như dẫn chứng /1/).

/5/ Ít nhứt là từ giữa thế kỷ 17, ký ức về chữ "GIO" đã bay đâu mất tiêu rồi (thành thử cuốn tự điển Việt -Bồ - La, chữ Quốc ngữ bấy giờ không ghi "Gio")!
Chữ Hán thì chắc chắn không có âm HV "gio".
Còn chữ Nôm, từ thế kỷ 17 trở ngược TRƯỚC ĐÓ, có ký tự nào được dùng để ghi và đọc là "gio" không?
Quí bạn nào biết, XIN GIÚP CHO BIẾT ký tự Nôm đó viết ra sao (cho biết nguồn mà ký tự đó được lưu lại).

* Sẵn trớn, nói nhanh: có người cho rằng "tro" đọc thành "gio", ồ, đó là cách phát âm của một số nơi ngoài Bắc, trong khi ở đây "Gio" (Gio Linh) là phát âm của người Quảng Trị (không đọc "tro" thành "gio"); mặt khác, kể cả người ngoài bắc phát âm "tro" thành "gio", tự điển chỉ ghi "Tro", không có "gio".

TẠM THAY LỜI KẾT

Vì chưa dám, chưa thể kết luận, nên "tạm thay lời kết".
Sự "biến mất" rất có thể liên quan đến việc "trục xuất" ngôn ngữ cách nào đó - chỉ thấy xuất hiện "gio" trở lại trong CHỮ QUỐC NGỮ mãi về sau này, nhưng do bị "cắt đứt", "trục xuất" nên không còn hiểu cho tỏ tường "gio" từ đâu ra, và ý nghĩa (chẳng hạn nghĩa của "Gio Linh" từ nguyên ngữ gốc).
Không chỉ "Gio", mà còn một số từ ngữ khác nữa cũng bị "đứt mạch" nên hiện nay nói mà không còn rõ nghĩa.
Soi tỏ, "tìm về dấu xưa", cũng là TÌM VỀ những biến động ẨN KHUẤT trong LỊCH SỬ ...
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

CỨU CÁNH 究竟 - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮



“Cứu cánh”, theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, được giảng là: “mục đích cuối cùng.” Đây là cách hiểu quen thuộc trong tiếng Việt hiện đại, thường dùng để chỉ đích đến sau hết của một hành động hay một quá trình.
 
Cứu cánh, chữ Hán viết 究竟, vốn có nghĩa cơ bản là tận cùng, đến mức rốt ráo, từ đó phát triển thành các nghĩa như kết cục, chân tướng của sự việc hoặc dùng như phó từ với nghĩa rốt cục, xét cho cùng.
 
Trong đó:
Cứu nghĩa là đi đến tận nơi theo sách Thuyết Văn Giải Tự. Chữ này về sau còn được dùng với nghĩa truy cứu, khảo sát, tìm cho ra lẽ như trong các từ tra cứu, khảo cứu, nghiên cứu,... Cánh là kết thúc, chỗ dừng sau cùng.
 
Trong cổ văn, cứu cánh thường được dùng với nghĩa truy đến nơi đến chốn hoặc hiểu thấu tận cùng. Ví như trong Sử ký có câu: Phi bác văn cường ký quân tử giả sở bất năng cứu cánh kỳ ý 非博闻彊记君子者所不能究竟其意, tạm dịch là: Nếu không phải là bậc học rộng nhớ nhiều thì không thể hiểu thấu đến cùng ý ấy. Ngoài ra từ này cũng có nghĩa cảnh giới tối hậu, chí cực, cõi Phật như "cứu cánh Niết bàn" trong thuật ngữ Phật giáo.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, từ này được ghi nhận với nghĩa "mục đích cuối cùng". Nghĩa này thực chất là một cách hiểu triển khai từ nghĩa gốc “đi đến tận cùng”, thiên về điểm kết thúc hay đích đến sau cùng của một quá trình.
 
Tuy nhiên do hiện tượng đồng âm, chữ "cứu" trong cứu cánh lại thường bị nhầm với chữ "cứu" trong cứu giúp. Bởi lẽ đây là một từ xuất hiện với tần suất rất cao trong tiếng Việt như trong các từ cứu nạn, cứu trợ, cấp cứu, cứu hộ, cứu hỏa, cứu nguy,... nên không ít người vô thức gán nghĩa "cứu vớt" vào "cứu cánh".
 
三生倏忽真風燭,
九界循環是蟻磨。
或問如何為究竟,
摩訶般若薩婆訶。
 
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,
Ma-ha bát nhã tát-bà-ha.
 
Ba sinh: gió thổi, đuốc loè tắt,
Chín cõi: cối vần, kiến nhẩn nha.
Muốn hỏi thế nào là cứu cánh,
Ma-ha bát nhã, tát-bà-ha!
(Tuệ Trung Thượng sĩ, bản dịch thơ Huệ Chi)
 
Xếp hàng ngang cùng lách
Hiện đại và thô sơ
Xếp hàng dọc mà len
Vượt lên là cứu cánh
Còi xe dồn lanh lảnh
Mồ hôi tháo đầm đìa
Có kế gì phù phép
Sang được đường bên kia!”
                       (Bằng Việt)
 
Xin em nỗi buồn, dừng lại
Anh đang cháy cạn đời mình
Van em, van em… cúi xuống
Nỗi buồn - cứu cánh - hồi sinh.”
               (Nguyễn Minh Dũng)
 
                                                                Bài viết của Khánh Ly
                                                         Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

CẢNH KHÔI HÀI CỦA VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện, Lê Tiên Long



MŨ VUA... XOAY NGANG - Lê Tiên Long

Hôm qua, Ninh Bình tổ chức Lễ hội Hoa Lư 2026, truyền hình trực tiếp trên cả VTV1, trong đó có hoạt cảnh sân khấu hoá cảnh Đại Thắng vương (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt.
Nhưng nhiều người thắc mắc, sao nhà vua đội mũ miện mà mũ lại... xoay ngang. Vì cái mũ miện (còn gọi là mũ bình thiên, vì bên đỉnh mũ trên có cái tấm chữ nhật phẳng, để theo phương ngang nên gọi là "bình thiên", tức trên đầu bằng phẳng) của vua theo quy định sẽ có 12 dải tua kết bằng châu, ngọc ở trước mặt và sau gáy.
Cái dải châu ngọc này để làm gì? Nó như một thứ "rèm" để che mặt vua, khiến bề tôi không được trực tiếp nhìn thẳng "long nhan". Nó cũng khiến ánh mắt của bậc đế vương không nhìn mọi vật quá rõ, quá trực diện, nhằm nhắc nhở người đứng đầu thiên hạ phải giữ thái độ điềm tĩnh, không thiên lệch, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời.
Quy chế về mũ miện rất chặt chẽ. Thiên tử có 12 dải tua, vua chư hầu, tước vương có 9 dải, tước công, hầu có 7 dải, tước bá, tử, nam có 5 dải.
Trong ảnh đen trắng bên dưới, các quan nhà Nguyễn ở nước ta trong buổi lễ tế Nam giao đội mũ Miện với 5 dải tua.
Chả hiểu sao đạo diễn sân khấu Lễ hội Hoa Lư lại cho vua Đinh Tiên Hoàng đội mũ... xoay ngang. Tức là để dải tua hai bên... che tai nhà vua.
Quả là khó hiểu.
Cũng có người bảo chỉ là sân khấu hoá ấy mà, vua mặc gì chả được, như đáng lẽ vua đội mũ Miện thì phải mặc áo Cổn, chứ đâu có mặc... áo khoác như trong ảnh. Rồi hoàng hậu vấn khăn, mặc áo kiểu Nhật Bình thời nhà Nguyễn, minh hoạ ấy mà, có hề chi!
Nhưng thời nào thì cũng chả có vua đội mũ Miện với dải tua hai bên tai cả.
Cho nên muốn đầu tư mấy chục nghìn tỷ đồng để chấn hưng văn hoá, mà thiếu kiến thức, trong đó có kiến thức lịch sử, thì cũng khó lắm thay!
                                                                               Lê Tiên Long

*
CẢNH KHÔI HÀI CỦA HAI VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện
 
Nghe nói là hai vị vua nước ta đều được sân khấu hoá trên một sân khấu.


Vua trên thì mũ bình thiên phải quay ngang để nhìn cho rõ mặt. 


Vua dưới thì tự tay cầm tờ “Tế Thiên chiếu” - nhà vua xuống chiếu về việc tế trời, hay đây là bài chiếu tế trời. 

Văn tế là Văn tế, Chiếu là tờ chiếu lệnh vua phát ra. Sao lại vừa tế vừa chiếu vậy?
Vua là thiên tử tức là con trời. Sao lại có ông vua ra bài chiếu tế trời để đọc giữa trời vậy?
                                                                          Nguyễn Xuân Diện

CHUYỆN CỦA THUẬN - Truyện ngắn Đặng Xuân Xuyến



Thuận bằng tuổi tôi, học cùng tới cấp 3 nhưng chỉ chơi thân với nhau mấy năm cấp I. Về vai vế họ hàng thì tôi gọi Thuận là cậu xưng cháu, họ cũng xa xa rồi, cỡ nếu Thuận là con gái có yêu đương với tôi thì trong họ cũng không ai phản đối. Nhà tôi ở xóm Chùa, đầu làng, còn nhà Thuận ở giữa làng, đi bộ đến nhà nhau chắc chỉ hết mươi, mười lăm phút. Ngày học cấp I, Thuận hay rủ tôi vào nhà chơi, cứ gọi tôi là anh xưng em, tình cảm lắm, mà Thuận toàn khen tôi đẹp trai học giỏi rồi đợi lúc tôi phổng mũi vì được khen là Thuận nhẹ nhàng dúi vào tay tôi con dao để băm bèo, cái chổi để quét nhà, quét bếp... Thuận khôn lắm, chả ngây ngô như tôi, như thằng Chủ, thằng Oanh,... Rõ ràng Thuận cao hơn tôi, trắng hơn tôi, đẹp trai hơn tôi, nếu chấm điểm, Thuận xứng đáng điểm 10, còn tôi chiếu cố thì may ra được 5 điểm, vậy mà Thuận luôn nắm tay tôi, chớp chớp mắt nhìn tôi rồi thủ thỉ: - Xuân ơi, ước gì em đẹp trai như anh, sau này em sẽ làm cho khối đứa con gái phải có con với em...

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ VINH, “CON SỐ MỘT SÂU NẶNG” ĐỐI VỚI NHÀ VĂN NHẤT LINH – Trịnh Anh Khôi

Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập đến người phụ nữ đã nhắc, là nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Bà là một người giỏi, đúng; bà có văn tài, đúng nốt, nhưng mối quan hệ và sự góp mặt của bà trong Tự Lực Văn Đoàn đã dấy lên theo năm tháng một câu hỏi: Có phải trong bà là mang tới “ba trong một bóng dáng”, vừa là bạn văn, vừa là người tình, mà cũng là đồng chí của vị chủ soái văn đoàn ấy, là nhà văn Nhất Linh?
 
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh ngồi giữa nhà văn Nhật Tiến (Bên tay phải bà) và nhà văn Sơn Nam. Người ngồi phía xa là nhà báo Phạm Việt Tuyền, chủ nhiệm báo Tự Do. Tất cả đang là giám khảo cho một cuộc thi Văn chương của Hội Văn bút Việt Nam trước 1975.

Lúc đó gia đình tôi (TAK) còn ở ngôi nhà số 287/8 Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Một buổi chiều 1968, một đôi vợ chồng chở nhau trên chiếc Lambretta đến gặp bố tôi. Người phụ nữ ấy tóc ngắn, đã hơn 40 nhưng vẫn rất đẹp mà lần đầu tôi nhìn thấy, còn chồng bà là họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật; nếu làm thơ, thì là thi sĩ Động Đình Hồ.
... Tôi thấy ông Nhật đến nhà đã mấy lần, và biết ông chơi với bố tôi đủ thân thiết để khi bố tôi in quyển sách thứ ba, là truyện dài Ngục Tối Của Lòng Mình, thì ông đã vẽ bìa cho nó.
 

TẠI SAO HUNGGARY VÀ BA LAN ĐƯỢC CHỌN LÀM THÀNH VIÊN ỦY BAN KIỂM SOÁT QUỐC TẾ HIỆP ĐỊNH PARIS ICCS ? – Tho Nguyen

Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonexia. Sau này Iran thay Canada

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba-Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba-Lan là thành viêc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba-Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS {3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.