NHỚ LÒ MỲ VẠN HOA PHƯỜNG ĐỆ NHẤT THÀNH PHỐ QUẢNG TRỊ XƯA – Đinh Hoa Lư
BẠN PHƯỜNG ĐỆ NHẤT THỊ XÃ QUẢNG TRỊ CHẮC CÒN NHỚ LÒ MỲ
VẠN HOA CỦA BÁC NGUYỄN VĂN VỊ
Phần trích đoạn
Thị Xã QT 1968
Trước mặt tiệm ăn Tàu Việt có tên Thanh Thanh là con hẻm
vào Lò Mì Vạn Hoa, người chủ là bác Nguyễn Vị. Bác mấy nhiệm kỳ được dân trong Phường luôn bầu
làm trưởng phường Đệ Nhất này. Người viết nhớ nhiều về con hẻm do nhà dì Võ thị
Liễu người viết trú ngụ trong hẻm nói trên. Dì tôi là vợ của dượng Nguyễn văn
Ngọ hay là em dâu của bác Vị. Sau vụ Mậu Thân 1968, mẹ tôi cùng các em lên đây ở
chung với nhà dì tôi cùng làm ăn buôn bán.
Đầu con hẻm có tiệm xe đạp Mỹ Dung một bên, còn bên
kia là nhà buôn bán vật liệu cùng các thứ khác của bác Trương công Tài. Người
viết hay thấy chiếc xe tải đề biển "Trương Công Huynh Đệ" hay chở
hàng từ Đà Nẵng ra ban đêm hay đậu trước nhà bác Tài. Vào sâu trong hẻm, trước
hết có nhà bà Toàn làm nghề sửa kim hoàn kiêm luôn "đổi đô la". Những
năm đó có chuyện "đô la xanh, đô la đỏ" có nghĩa là đô la đỏ dành cho
lính Mỹ hải ngoại xài mà thôi và dĩ nhiên có giá trị hải ngoại mà thôi, chuyện
đó đến nay tác giả còn nhớ nhưng chẳng liên quan gì đến bài này.
Tiếp qua nhà bà Toàn là đến cái lầu của chú Lành,
trung sĩ quân y, anh ruột Cô Võ thị Hồng, dạy trường TH Nguyễn Hoàng. .. xong mới
đến nhà dì tôi, lò mỳ Vạn Hoa.
Nhà bác Vị chủ lò mỳ này có cây đào cổ thụ gần cả trăm
năm, người ta đồn linh thiêng. Bởi thế mệ Vị tức là mẫu thân bác Vị hái đào bị
"ma xô" sau này khi nào mệ cũng chống nạng. Thân phụ của bác vị cũng
là thân phụ của dượng Ngọ (Nguyễn văn Ngọ) tôi nghe đồn là thầy pháp cao tay lắm
bởi vậy bị ma nó "thù" làm cho mệ bị gãy chân chống nạng sau này? Tin
hay không tin, chứ tôi thì chẳng bao giờ héo lánh dưới cây đào tiên rậm rạp cao
ngất này do..."sợ ".
Người viết nhắc tới nhà bác Nguyễn văn Vị do khó quên
được cái hương vị những ổ mì nóng mới kéo trong lò ra cho đến nay dù bao đổi
thay tôi vẫn còn nhớ.
Hình
minh họa: lò mì xưa đốt bằng củi
Mì
tươi đang được đưa vào lò củi ngày xưa
Lò mì nằm sâu nhất trong xóm và cuối ngõ kiệt tác giả
vừa kể. Lò xây bằng gạch. Những thanh củi to lớn được đốt bên trong suốt nửa
ngày cho lò thật nóng. Xong mới người thợ mới hì hục kéo tro than ra chùi sạch
bằng nhũng thanh gỗ dài có quấn bao tải ướt ở đầu. Giả mỳ đầu tiên khi nào cũng
cháy nhiều và còn dính một ít hạt than. Lúc này những ổ mì 'cháy' không đẹp tôi
được "tự do ăn"...nhớ làm sao những ổ mì mới ra lò nóng hổi ăn ngon
đáo để. Sức nóng còn lại, chú Lô sẽ vô mì làm giả thứ hai. Giã mì thứ hai khi
nào cũng ngon và đẹp nhất. Có thể làm giả thứ ba nhưng có thể mì không còn ngon
bằng giã thứ hai được; hơn nữa trí nhớ người kể chuyện không biết lò đốt củi có
chắc chắn vô được ba giã mì hay chăng?
Những cái cần xế đan bằng tre dùng đựng mì chia cho từng
mối mua. Đêm vừa xuống, có nhiều em nhỏ bán mì rao vô lấy mì tại lò. Mấy bao bột
mì màu trắng, nay lò cho mấy em làm bao đựng mì đi bán. Các em dùng bao đôi.
Hai lớp bao sẽ giữ mì được nóng lâu hơn. Hình ảnh các em bé mang bao bánh mì
nghiêng nghiêng một bên vai; đó là hình ảnh chúng ta thường thấy tại Quảng Trị
hay có thể tại Huế. Vào nam rồi, người viết chẳng hề thấy bán mì cách đó nữa.
Giai đoạn nhồi bột quả thật công phu. Toán thợ thanh
niên, sức vóc, ủ bột nhồi bột; còn có thêm bột men "la virre " nhập từ
Pháp giúp làm nở mì. Khối bột mềm mại trắng bóc, thợ rứt ra rất đều tay, không
quên bỏ lên cái cân bàn. Những con bột trông như những "con đỉa" to lớn
màu trắng, nhọn hai đầu đặt dài theo mái chèo gỗ mỏng giẹp. Chú thợ dùng nửa miếng
dao cạo thoăn thoắt rạch 1 đường ở giữa từng con bột trước khi chuồi sâu vào miệng
lò. Các đường bột đã đầy lò, chú thợ đậy mấy cái lỗ lò trông như mấy cái lỗ
châu mai mà chúng ta hay thấy tại các lô cốt thời Pháp vậy. Mỳ vàng tới, là
toán thợ hối hả kéo mỳ ra. Những ổ mì nóng giòn, vàng hươm rớt xuống nghe
"rôm rốp" vào những cái cần xế đan bằng tre. Mì lúc đó nóng đến nỗi
tôi không thể cầm lâu được. Bạn chớ chê mì cháy; nó ngon nhất lúc này. Tôi ăn
bao nhiêu chú Lô người thợ chính của bác Vị chẳng nói chi, em út mà !

CHÚNG TA THẤY, CẠNH CHIẾC HONDA 67 CÓ 1 XE MỲ (có chiếc
xe con cóc của nhà Thuốc Tây Việt Tiến như vậy hình có thể trước 1968)
Sau này thời đại
dầu hỏa "lên ngôi" (đúng ra gọi là dầu cặn (diesel) khi đốt nó hôi nặng
mùi hơn dầu hoả), lò mỳ không đun nóng bằng củi vì thiệt ra trong thời chiến
tranh khó mua củi hơn dầu nhiều. Đốt bằng dầu vừa sạch vừa tiện công hơn. Lò mỳ
bằng gạch lò Vạn Hoa vẫn giữ nguyên. Nhưng không đốt than thì lại thế bằng các
máy thổi chạy bằng dầu. Những luồng hơi lửa trông như súng phu lửa trong chiến
trận mà chúng ta thấy trong phim ảnh, thổi ào ào hàng giờ vào trong cái lò gạch.
Khi đủ độ nóng, thợ lò chùi sơ là bỏ con mỳ vào được. Lạ thay tôi thích ăn mỳ đốt
bằng lò củi hơn nhiều. Các tiệm mỳ điện sau này cũng có, ví dụ Liên Thịnh nhưng
làm mỳ ngọt thôi. Lò mỳ Vạn Hoa công suất nó nhiều, cung cấp nhiều mối buổi
sáng và mỳ ra chiều ít hơn dành cho bán tối. Kinh doanh mở rộng hơn, lò Vạn Hoa
còn cung cấp những cái thùng 4 mặt kiếng hình khối vuông, sơn màu vàng cho các
mối bán mỳ xíu lẻ mượn lâu dài. Nhớ về lò mỳ Vạn Hoa tôi còn nhớ một
"thiên tình sử" giữa anh Lô làm thợ và con gái bác Vị tức chị Anh.
Chú Lô người Huế lưu lạc Quảng Trị làm với bác Vị. Anh lanh lợi, hoạt bát, đẹp
trai. Có điều tôi nhớ chú hát vọng cổ rất hay. Làm lụng với con gái ông chủ lâu
ngày, tình yêu phát sinh. Hình như phân biệt giữa giai cấp "chủ tớ" hồi
này là lằn ranh ngăn cách sâu đậm, gia đình chị không ưa. Chuyện tình anh chị
qua nhiều phen gay cấn lắm nhưng "thề non hẹn biển" nên cũng tới nơi,
tức là 'bến đổ tình yêu". Cái miếu âm hồn trong xóm cũng đã lâu năm bên
hông nhà chị Chư tức mẹ ca sĩ Khả Tú lâu nay. Nhưng cái thời tôi ở trong xóm
này chắc Khả Tú chưa ra đời. Và chị Chư lại bà con với dượng Ngọ tôi mà nay lại
ở gần nhà tôi ở San Jose này. Chị Yến, chị đầu của chị Chư thì là vợ của chú
Lành, mà chú Lành là anh ruột cô Hồng. Bà con quanh đi quẩn lại, té ra biết
nhau cả thôi. Đó là tôi chưa nhắc đến anh Viễn Khởi dòng Tôn Thất đâu trong Huế,
tình duyên sao lại tới với chị đầu con gái bác Vị. Chú Khởi một thời có nhiều
bàn tán về cái chức chi nghe đâu "to lắm " mỗi lần ra xóm trong bộ đồ
lính "rằn ri" đội mũ đỏ mà lại có tài xế lại lái xe "dân sự"?
Tôi lúc này là đứa học trò, chẳng để ý làm gì. Lạ lùng thay vào trong trại tù cải
tạo sau này bên Ái Tử, lại thấy chú Khởi cũng ở tù nhưng lại làm trưởng khối
"đúc song nồi" cho trại, chuyên cưa vụn xe lội nước quân đội M 113
trong rừng về trại nấu lỏng ra mà đúc. Sau này chú Khởi "biến mất"
tôi không còn thấy cho đến lúc này cũng "bặt tăm hơi" chẳng biết hỏi
ai ...
Mì lò Vạn Hoa cung cấp cho chợ QT, các xe bán quanh chợ,
các em bé bán mỳ không rao quanh thành phố nhất là ban đêm...
Xe mì xíu Chú Hưng bên góc phải tấm
hình gần Phòng Nha Sĩ Hồng Bàng
Nói về các xe mì xíu, người phố QT ngày trước ai cũng
nhớ đến Chú Hưng. Sưu lục lại trong hình ảnh QT cũ, tấm hình "Ngã Tư Quang
Trung -Trần Hưng Đạo" vẫn còn thấy. Các cô các cậu khách ăn mì chú Hưng
nhìn vào tấm hình Ngã TƯ nói trên là thấy ngay. Học trò đi học bữa sáng có mì
xíu chú Hưng. Khách đi xem xi-nê về khuya ghé ngang chú Hưng khoảng 10 giờ đêm
vẫn còn chú Hưng đợi khách. Mấy ổ mì nóng giòn trên cái lò than nho nhỏ khi nào
cũng vừa lòng khách. Mì xíu QT nó đậm đà hương vị, qua tay kho của người bán mỳ
thân quen chợ Tỉnh làm ai cũng nhớ cũng thương thứ hương vị mộc mạc quê hương của
mình cả. Đêm đông trời lạnh có ổ mì xíu nóng giòn như rứa thì chao ôi nó thấm
thía làm sao ! Người thành phố ngày đó, cụ thể là ở quanh Ngã Tư Quang Trung nhớ
xe mì chú Hưng. Có một điều người viết nói thêm Chú Hưng và chú Lô làm lò mì Vạn
Hoa đều "thiên cư" từ Huế ra ở tại Lò Vạn Hoa. Hai chú đều là người
Huế, cùng tá túc tại lò mì. Chú Lô thợ lò mì, còn chú Hưng tá túc tại lò mì ở
nhờ tại lò mì nhưng chỉ đi bán xe bánh mì xíu thôi.
Nói vậy nhưng mấy xóm ngoại ô, xa trung tâm thành phố
về đêm tuy không thưởng thức được hương vị ổ mì xíu nóng giòn nhưng cũng có đôi
ba ổ mì nóng mới ra lò. Đó là nhờ vào các em bán mì về đêm mang lại. Bao năm rồi,
người kể chuyện vẫn nghe trong tiềm thức mơ hồ tiếng rao vẳng vẳng của mấy em
bán bánh mì ngày xưa đó...
-Mì ồ ! mì nóng
ồ !!!
Trời đông lạnh, những ổ mì nóng mới ra lò, các em vừa
lấy xong từ Lò Vạn Hoa rồi đi tản ra tứ phía, quanh Thành Phố. Những đôi chân
trần, chịu đựng dai dẳng theo ngày tháng nghèo khó của mấy em nhỏ đó là hình ảnh
đáng thương về một lớp tuổi thơ chịu gian nan quá sớm. Đó là những gì cho tác
giả từng cảm tác viết lại trong bài hồi ký đầu tiên để nhớ về một thành phố xa
xưa nay thật sự khuất hẳn trong tro tàn dĩ vãng.
Xa quê hương dặm đường xa ngái; mì xá xíu, mì thịt nguội
trong nam thiếu chi nhưng ai là người Chợ Tỉnh đi mô xa cũng nhớ về thứ hương vị
rất riêng của mì xíu Chợ Tỉnh quê mình.
Kể về quá khứ, từ cái lò mì đốt bằng củi cho đến mấy
chiếc xe ba bánh bán mì xíu quanh ngã tư Quang Trung Quảng Trị. Chúng ta lại nhớ
bao tiếng rao trầm buồn, bay xa quanh thành phố đêm về...ôi bao nhiêu thanh âm
như lan trải và trầm buồn, khi xa xa bao tiếng đại bác dội về. Bầu trời Thành
Phố trong đêm đen vẫn chớp nháy hay ầm ì ánh chớp của đạn bom từ Trường sơn hay
từ vùng Vĩ Tuyến dội lại. Tất cả như quyện với nhau tạo thành một quá khứ chiến
tranh, chỉ những lớp tuổi già Quảng Trị từng ra đi nay ai còn rơi rớt lại trên
cõi trần gian này mới cảm nhận được một hoài niệm man mác thương nhớ lẫn u buồn
- một quá khứ nay thật sự chìm sâu trong vùng kỷ niệm.
Kể cho nhau nghe khi bao ký ức của con tim như đang
tuôn trào ra trên đầu ngón tay thay vì ngòi bút. Lò mì thành phố Quảng Trị
không chỉ một Lò Vạn Hoa, còn có Đắc Lập, Liên Thịnh nữa. Lý do sau 1968 người
viết có cơ hội ở gần Vạn Hoa mới biết một vài chi tiết để viết lên đây vài dòng
về một lò Vạn Hoa. Ít nhiều chi, tác giả cũng hi vọng bạn đọc cùng trang lứa
hay các bậc tiền bối có dịp nhớ lại vài hình ảnh của Quảng Trị, một thành phố
ngày xưa.
Thân ái
Đinh Hoa Lư edition 26/7/2025
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
POST HÌNH HOẶC VIDEO CLIP VÀO Ô COMMENT :
Các bạn chỉ việc copy link hình hoặc link video clip dán trực tiếp vào ô comment mà không cần dùng thẻ